Chuyên mục lưu trữ: Social Forestry Support Programme

Trồng cây xanh và trồng rừng ở vùng thành phố và ở khu công nghiệp để nhằm mục đích gì?

Hiện nay, quá trình đô thị hóa ngày càng diễn ra mạnh mẽ. Không gian sống xanh ngày càng bị thu hẹp, thay vào đó là những khu đô thị, nhà cao tầng. Không gian sống trở nên bức bối, chật hẹp khó chịu. Chính vì vậy việc trồng cây xanh là hết sức cần thiết. Cùng tìm hiểu rõ hơn trồng cây xanh và trồng rừng ở vùng thành phố và ở khu công nghiệp để nhằm mục đích gì trong bài viết dưới đây.

Mục đích trồng cây xanh, trồng rừng ở thành phố và khu công nghiệp

Trồng cây xanh, trồng rừng được nhiều nơi phát động đặc biệt là ở khu vực thành phố, khu công nghiệp, nơi rừng đầu nguồn. Một câu hỏi được đặt ra trồng cây xanh và trồng rừng ở vùng thành phố và ở khu công nghiệp nhằm mục đích gì? Sau đây là giải đáp thắc mắc này:

Trồng cây xanh và trồng rừng ở vùng thành phố và ở khu công nghiệp để nhằm mục đích gì?

Cây xanh được coi là “Lá phổi” của đô thị

Các dự án xây dựng đô thị hiện nay khi được quy hoạch thường kèm theo diện tích để xây dựng không gian xanh, giải trí cho người dân. Trong quy hoạch đô thị, cây xanh đóng vai trò là lá phổi xanh của đô thị điều hòa không khí, nguồn nước, giảm tiếng ồn…

Không gian xanh ở các khu đô thị, công nghiệp giúp đáp ứng nhu cầu sống trong môi trường trong lành, xanh – sạch – đẹp.

Hệ thống cây xanh, rừng cây giữ độ ẩm cho đất và không bị năng lượng mặt trời nung nóng. Nếu không có cây xanh thì:

  • Đường nhựa, bê tông bị nung nóng tỏa ra nhiệt lượng làm không khí nóng bức, khó chịu hơn.
  • Động cơ, điều hòa cũng làm cho không khí ở thành phố, đô thị và khu công nghiệp nóng hơn.
  • Lượng bụi bẩn, khí thải độc hại trong không khí ngày càng gia tăng.

Ngược lại, những hàng cây xanh trong thành phố, đô thị xen kẽ với các chung cư, nhà cao tầng… sẽ giúp không khí được điều hòa, giảm nóng bức, khó chịu. Những con đường rợp bóng mát, người đi đường sẽ thoải mái, dễ chịu tránh được sự ảnh hưởng của ánh nắng gay gắt của mặt trời vào mùa hè nóng nực.

Không chỉ là lá phổi xanh điều hòa không khí, cây xanh còn giúp cung cấp hoa quả, gỗ tươi cho người dân đô thị.

Trồng cây xanh và trồng rừng ở vùng thành phố và ở khu công nghiệp để nhằm mục đích gì?

Xây dựng một nơi ở có chất lượng sống tốt

Các hoạt động cộng đồng, giải trí, giao tiếp của người dân thường diễn ra ở các công viên. Đây là nơi dùng để tập thể dục thư giãn, tái tạo sức lao động, nâng cao sức khỏe con người.

Trong quy hoạch đô thị, việc trồng cây xanh ở công viên không chỉ tạo không gian cảnh quan mà còn giúp cải thiện môi trường sống cho con người. Hiện nay, dân số tập trung ở các đô thị, thành phố, khu công nghiệp rất lớn. Lượng khí thải CO2, bụi bẩn, hóa chất công nghiệp khác được thải ra môi trường với số lượng khổng lồ. Nếu không có cây xanh và rừng hấp thụ CO2, cung cấp khí O2 thì môi trường sống bị ảnh hưởng nặng nề, đe dọa cuộc sống của con người.

Cây xanh hấp thụ CO2, giúp khí bụi, chất độc hại có trong không khí, nhả khí O2 giúp không khí được trong lành, dễ chịu hơn.

Cây xanh tái tạo không gian sống trong lành, tươi mát, thu hút chim muông. Ở những khi công nghiệp, đô thị chỉ có sát, thép, bê tông khói bụi thì việc điểm xuyết cây cối, hoa lá xanh tươi sẽ làm dịu mát, dễ chịu, giảm căng thẳng, stress cho người dân.

Ở các khu đô thị, công nghiệp, cây xanh còn giúp giảm tiếng ồn. Ở khu vực ngoại thành, việc trồng cây xanh và trồng rừng còn giúp điều hòa mực nước ngầm và chống xói mòn hiệu quả.

Phòng ngừa ô nhiễm nước, không khí tại đô thị và các khu công nghiệp

Khí thải, nước thải công nghiệp, sinh hoạt thải ra từ các khu đô thị, dân cư, khu công nghiệp rất lớn. Trồng cây xanh và trồng rừng ở vùng thành phố và ở khu công nghiệp để nhằm mục đích gì? Cây xanh đóng vai trò thanh lọc chất độc hại, bụi bẩn, trả lại sự trong lành cho không khí. Cũng như miếng bọt biển thanh lọc, tái tạo nguồn nước ngầm sạch tự nhiên.

Có thể thấy được vai trò của cây xanh trong công viên ở đô thị, khu công nghiệp đối với cuộc sống của người dân tại đây. Vì thế, việc quy hoạch hình thành hệ thống cây xanh đạt theo tiêu chuẩn đô thị là hết sức cần thiết. Để có thể thực hiện được thì cần sự quyết tâm lớn của chính quyền và dân cư.

Ngoài ra, chính quyền thành phố, tỉnh huyện nơi có các khu đô thị, công nghiệp cần hoàn thiện hơn quy định, chính sách quản lý quy hoạch và phát triển hệ thống cây xanh.

Trồng cây xanh và trồng rừng ở vùng thành phố và ở khu công nghiệp để nhằm mục đích gì?

Tán cây xanh giúp giảm tiếng ồn

Không chỉ mang lại bầu không khí trong lành, bảo vệ trẻ nhỏ, trồng cây xanh và trồng rừng tại các đô thị, khu công nghiệp còn giúp giảm cường độ tiếng ồn.

Tán cây dày rộng với lượng lá dày đặc giúp hấp thực âm thanh lơn, cường độ tiếng ồn được khuếch tán. Các tiếng ồn thường gặp như tiếng ồn của phương tiện giao thông, máy móc… Những tiếng ồn này qua lá cây sẽ hấp thụ sống âm giúp âm thanh xuống hiệu quả. Theo chứng minh của các nhà khoa học, tiếng ồn giảm 35% nếu dải cây xanh rộng 15m, giảm 40% nếu dải cây xanh rộng 25m.

Như vậy, việc trồng cây xanh ở khu đô thị, thành phố, ở các khu công nghiệp, hai bên đường phố giảm giảm tiếng ồn hiệu quả. Đồng thời cũng tạo không gian sống xanh – sạch – đẹp hơn.

Cây xanh bảo vệ trẻ em

Không gian xanh đặc biệt tốt cho sự phát triển của trẻ nhỏ. Nếu trong thành phố, đô thị không có cây xanh, trẻ em, người dân đều bị ảnh hưởng bởi các tia cực tím, bức xạ, sự phơi nhiễm nhiễm UV – B cao. Ngược lại, nếu được trồng nhiều cây xanh tỷ lệ này giảm khoảng 50%.

Do đó, ở những nơi trẻ nhỏ hoạt động vui chơi ngoài trời như trường học, sân chơi giải trí thì nên trồng nhiều cây xanh.

Qua trên, chắc hẳn mỗi người đã biết được trồng cây xanh và trồng rừng ở vùng thành phố và ở khu công nghiệp nhằm mục đích gì? Hy vọng rằng, mỗi người sẽ tích cực tham gia tuyên truyền và trồng cây xanh để giúp môi trường sống của chúng ta luôn trong lành nhất. Không chỉ ở thành phố, khu công nghiệp mà ở bất cứ nơi đâu trên trái đất này đều cần cây xanh.

Nghị định thư Montreal: Sức mạnh bảo vệ tầng ozone hiệu quả

Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ozone ra đời nhằm bảo vệ môi trường, tầng ozone trước những mối đe dọa hiện nay. Cùng tìm hiểu rõ hơn nghị định thư Montreal là gì? Việc thực hiện nghị định này tại Việt Nam hiện nay như thế nào ngay sau đây.

Nghị định thư Montreal là gì?

Nghị định thư Montreal là điều ước quốc tế về các chất làm suy giảm tầng ôzôn bằng cách loại bỏ sự sản xuất những chất làm suy giảm ôzôn (ODS). Nhờ vậy mà hạn chế thiệt hại đến tầng ozone của trái đất.

Nếu không loại bỏ được sự sản xuất chất làm suy giảm ôzôn sẽ cho phép tăng bức xạ tia cực tím tiếp cận trái đất. Điều này dẫn đến tỷ lệ mắc bệnh ung thư da và đục thủy tinh thể mắt cao hơn; hệ thống miễn dịch bị tổn hại nhiều hơn và tác động tiêu cực đến rừng đầu nguồn, đất nông nghiệp và rừng.

nghị định thư montreal

Nghị định thư Montreal được thống nhất vào ngày 16/09/1987, có hiệu lực kể từ ngày 16/09/1989. Kể từ sau khi có hiệu lực, nghị định Montreal được sửa đổi 8 lần vào các năm 1990, 1991, 1992, 1993, 1995, 1997, 1998, 1999 và 2016. Riêng năm 2016 được thông qua nhưng không có hiệu lực, bởi kết quả của thỏa thuận quốc tế, lỗ thủng tầng ozone ở Nam Cực đang dần hồi phục.

Theo dự báo khí hậu cho thấy tầng ozone sẽ trở về mức 1980 trong khoảng thời gian từ 2050 đến 2070.

Nghị định thư Montreal được ký bởi 197 quốc gia. Đây là Hiệp ước đầu tiên trong lịch sử Liên Hợp Quốc đạt được phê chuẩn toàn cầu thành công nhất.

Quy định của Nghị định thư Montreal

Hiệp ước được cấu trúc xung quanh một số nhóm hydrocacbon halogen hóa làm suy giảm tầng ozone tầng bình lưu. Tất cả các chất làm suy giảm tầng ozone được kiểm soát bởi Nghị định thư Montreal đều chứa clo hoặc brom (các chất chỉ chứa flo không gây hại cho tầng ozone). Một số chất làm suy giảm tầng ozone (ODS) chưa được kiểm soát bởi Nghị định thư Montreal, bao gồm oxit nitơ (N2O) Đối với bảng các chất làm suy giảm tầng ozone được kiểm soát bởi Nghị định thư Montreal. Nghị định thư Montreal quy định những điều sau đây:

  • Bắt đầu từ ngày 1/1/2010, loại bỏ hoàn toàn chất làm suy giảm tầng ozone nhóm CFC (clorofluorocarbon).
  • Từ năm 2010 trở đi, tất cả những nước thành viên sẽ triển khai loại bỏ những chất HCFC (hydrochlorofluorocarbon). Hydrochlorofluorocarbons, thường được gọi là HCFC, là một nhóm các hợp chất nhân tạo có chứa hydro, clo, flo và carbon.
  • Đến năm 2030, những nước đang phát triển phải loại bỏ hoàn toàn những chất HCFC.

Thành tựu khi thực hiện Nghị định thư Montreal

Kể từ khi được thông qua vào năm 1987 và đến cuối năm 2014, nó đã loại bỏ thành công hơn 98% ODS được kiểm soát, giúp đảo ngược thiệt hại cho tầng ozone.

Trong giai đoạn 1989 – 2013, giảm CO2-eq tích lũy lượng khí thải 135 tỷ tấn.

Quá trình chuyển đổi từ CFC (tiềm năng làm suy giảm tầng ozone cao hoặc ODP) sang HCFC trung gian (với ODP thấp hơn) đã được hoàn thành. Quá trình chuyển đổi cuối cùng là các giải pháp thay thế không có ODP.

Thách thức vẫn còn tồn tại là phát triển hoặc lựa chọn các sản phẩm thay thế (chủ yếu trong sản phẩm điện lạnh, điều hòa không khí và bọt) thân thiện với môi trường.

UNDP là một cơ quan thực hiện của Quỹ đa phương để thực hiện Nghị định thư Montreal. Cơ quan này đã hỗ trợ các nước đang phát triển loại bỏ ODS. UNDP cũng là một cơ quan thực hiện cho Cơ sở Môi trường Toàn cầu (GEF) tài trợ cho các chương trình tương tự ở các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi. UNDP đã hỗ trợ 120 quốc gia đối tác tiếp cận nguồn vốn 733,5 triệu đô la, giúp loại bỏ 67.870 tấn ODS đồng thời giảm 5,08 tỷ tấn khí thải nhà kính CO2-eq.

Nghị định thư Montreal tại Việt Nam

Tháng 01/1994, Việt Nam tham gia vào phê chuẩn Nghị định thư Montreal. Trong suốt thời gian tham gia nghị định này, Việt Nam đã thực hiện nghiêm chỉnh, tích cực, có hiệu quả những quy định, cam kết của Nghị định thư Montreal.

Việt Nam đã hạn chế, kiểm soát tình trạng các chất tác động xấu đến tầng ozone bằng những biến pháp như:

  • Không sản xuất mà nhập khẩu các chất phục vụ nhu cầu sản xuất điện lạnh, bọt xốp…
  • Xây dựng, áp dụng những chính sách về môi trường, sản xuất nhằm bảo vệ tầng ozone.

nghị định thư montreal

Các dự án Việt Nam đã thực hiện thành công

  • Dự án “Kế hoạch quản lý loại trừ các chất HCFC của Việt Nam – giai đoạn I”.
  • Dự án “Kế hoạch quốc gia của Việt Nam loại trừ hoàn toàn tiêu thụ các chất CFC và Halon”.
  • Chương trình quốc gia của Việt Nam để loại bỏ dần những chất làm suy giảm tầng ozone.
  • Dự án “Trình diễn chuyển giao công nghệ giảm phát thải khí nhà kính và các chất làm suy giảm tầng ozone trong lĩnh vực làm lạnh công nghiệp”.
  • Dự án “Tăng cường năng lực thực hiện Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ozone ở Việt Nam”.

Những văn bản liên quan đến nghị định thư Montreal của chính phủ

Để các cơ quan ban hành, người dân thực hiện Nghị định thư Montreal nghiêm túc và hiệu quả, Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Công Thương đã ban hành các văn bản sau:

  • Ngày 11/07/2005, Thông tư liên tịch số 14/2005/TTLT/ BTM-BTNMT về việc quản lý xuất nhập khẩu, tạm nhập tái xuất những chất CFC, CTC và halon.
  • Ngày 30/12/2011, Thông tư liên tịch số 47/2011/TTLT/BCT-BTNMT. Thông tư này quy định việc quản lý xuất nhập khẩu và tạm nhập tái xuất các chất HCFC, Polyol trộn sẵn HCFC-141b (HCFC- 141b Pre-blended polyol). Mục đích là loại bỏ triệt để các chất làm suy giảm tầng ozone.
  • Ngày 03/05/2017, Văn bản số 2139/BTNMT- BĐKH được gửi đến các Bộ, cơ quan ngang bộ và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Văn bản quy định về việc triển khai những biện pháp giảm cầu polyol trộn sẵn HCFC-141b.

Bên cạnh những thông tư, văn bản được ban hành, Bộ Tài nguyên và Môi trường còn tổ chức những buổi tập huấn, hội thảo. Mục đích để tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân về những chất làm suy giảm tầng ozone.

Xây dựng những bài viết, tài liệu, video… về Nghị định thư Montreal trên những phương tiện truyền thông; cũng như những tác hại khi tầng ozone bị suy giảm và cách bảo vệ tầng ozone…

Kết quả đạt được khi thực hiện Nghị định thư Montreal

Mặc dù trong quá trình thực hiện nghị định gặp nhiều khó khăn, thách thức nhưng cũng đạt được những kết quả đáng kể. Cụ thể:

Người dân, tổ chức, doanh nghiệp đã nâng cao nhận thức về việc bảo vệ tầng ozone.

Loại bỏ được nhiều chất thải độc hại ảnh hưởng đến môi trường.

  • Tính đến 01/01/2010, 500 tấn CFC, Halon và CTC đã được loại bỏ, hoàn thành đúng tiến độ theo Nghị định thư Montreal. Việt Nam nhận được “Chứng nhận hoàn thành loại trừ tiêu thụ các chất CFC, Halon và CTC“.
  • Từ ngày 01/01/2015, 500 tấn Methyl Bromide không được sử dụng và 500 tấn HCFC- 141b cũng bị loại bỏ hoàn toàn. Gióp phần hoàn thành mục tiêu loại bỏ 10% lượng tiêu thụ những chất HCFC.

Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam 2014 có hiệu lực từ ngày 01/01/2015 có thêm quy định về việc bảo vệ tầng ozone.

Ban hành dự án “Kế hoạch quản lý loại trừ các chất  HCFC của Việt Nam-giai đoạn II”. Giai đoạn II từ 2017 – 2025.

Đốt rừng làm nương rẫy thực trạng và biện pháp khắc phục

Hiện nay, tình trạng đốt rừng làm nương rẫy vẫn diễn ra hàng ngày; trở thành vấn đề cấp bách cần giải quyết. Vậy cần phải làm gì để khắc phục được tình trạng này?

Thực trạng đốt rừng làm nương rẫy ở nước ta

Diện tích rừng phòng hộ đang ngày càng suy giảm; thay vào đó là diện thích sản xuất tăng. Nguyên nhân là do người dân đốt rừng là nương rẫy.

Báo cáo của Cục kiểm lâm cho biết hiện nay tình trạng đốt rừng làm nương rẫy ngày càng phức tạp hơn nên cơ quan chức năng khó phát hiện. Người dân thường khai phá vào đêm, chỉ vài mét vuông mỗi ngày. Sau một thời gian dài, diện tích lớn rừng bị đốt khai phá thành đất nông nghiệp. Khi bị phát hiện thì cây trồng đã được trồng, vài năm sau, người dân biến đất lâm nghiệp thành đất canh tác của nhà mình.

đốt rừng làm nương rẫy

Tình trạng đốt rừng làm nương rẫy ở Kon Tum

Dọc theo quốc lộ 24, rất nhiều mảng rừng phòng hộ bị đốt phá nham nhở. Màu xanh của rừng tự nhiên bị thay bằng màu xanh của sắn; thậm chí vẫn chỉ là những chồi sắn mới nhú.

Tại đèo Măng Đen, nơi giáp ranh Kon Rẫy và Kon Plông, nhiều mảng rừng bị đốt các cây gỗ to vẫn cháy âm ỉ. Mặc dù đã được dựng biển “Rừng phòng hộ đầu nguồn, cấm phát nương, làm rẫy” nhưng rừng vẫn bị đốt phá. Đặc biệt nguy hiểm là diện tích rừng bị khai phá lại nằm ngay đỉnh đèo. Nếu không có rừng che phủ thì rất dễ xảy ra sạt lở, mưa lũ, lũ quét.

Các cánh rừng phòng hộ dọc theo tuyến Đông Trường Sơn hướng về huyện K’Bang bị đốt phá liên tục cả ngày lẫn đêm. Theo thống kê, từ năm 2016 đến nay, có 12 vụ đốt rừng làm nương rẫy; làm suy giảm hơn 3 ha rừng ở khu vực rừng do Lâm trường Măng La quản lý.

Ngoài ra, những dự án thủy điện thu hồi đất sản xuất của người dân cũng dẫn đến tình trạng đốt rừng làm nương rẫy ngày càng tăng.

Tình trạng đốt rừng làm nương rẫy ở Núi Voi

Tình trạng đốt rừng làm nương rẫy ở Núi Voi vẫn đang diễn ra. Chính điều này làm cho diện tích rừng ngày càng thu hẹp; ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh thái; là tác nhân gây biến đổi khí hậu.

Theo báo cáo, hai bên sườn đồi dọc theo đường Hoa Đỗ Quyên nối liền Phường 3, TP Đà Lạt với huyện Đức Trọng, diện tích rừng phòng hộ đang bị suy giảm do người dân đốn hạ, đốt rừng. Khu vực này khá hoang vắng nên người dân thường đốt phá rừng vào ban đêm; cơ quan chức năng khó phát hiện. Như vậy, diện tích đất rừng bị thu hẹp, diện tích đất vườn được mở rộng.

đốt rừng làm nương rẫy

Biện pháp khắc phục tình trạng đốt rừng làm nương rẫy

Cần khắc phục được những hạn chế của pháp luật

Các luật về bảo vệ rừng vẫn còn nhiều thiếu sót. Cần phải tiếp tục rà soát, sửa đổi và bổ sung những quy định phù hợp. Có như vậy mới đáp ứng tốt hơn trong công tác đấu tranh phòng chống hành vi đốt rừng làm nương rẫy, phá hủy rừng phòng hộ đầu nguồn.

Cần chú ý phải cụ thể hóa các quy định trong luật bảo vệ rừng. Chẳng hạn như về nghĩa vụ, quyền lợi của cá nhân, tổ chức được giao đất trồng rừng. Cũng như các quyền lợi và nghĩa vụ của cơ nhà nước từ trung ương tới địa phương trong quản lý rừng. Bên cạnh đó, nhà nước cần ban hành các văn bản quy định cụ thể vai trò; địa vị pháp lý của lực lượng kiểm lâm trong việc thi hành pháp luật và bảo vệ rừng.

Những vấn đề này đặc biệt cần thiết trong giai đoạn hiện nay khi mà tình trạng đốt rừng làm nương rẫy ngày càng nghiêm trọng, phức tạp và tinh vi hơn.

Khắc phục yếu kém, hạn chế trong quản lý hành chính nhà nước

Phải thẳng thắn thừa nhận rằng, hoạt động quản lý hành chính nhà nước hiện nay còn tồn tại nhiều hạn chế, yếu kém. Đây cũng chính là một yếu tố tác động khiến tình trạng đốt rừng làm nương rẫy diễn ra phức tạp hơn. Do đó, cần phải khắc phục yếu kém trong quản lý nhà nước là hết sức cần thiết. Một số biện pháp khắc phục như:

  • Tăng cường sự quản lý của nhà nước về lâm nghiệp ở các địa phương có rừng. Tổ chức thực hiện nghiêm túc và quyết liệt những văn bản chỉ đạo của Chính phủ, ngành về việc phòng chống đốt phá rừng và bảo vệ rừng.
  • Ngăn chặn và xử lý nghiêm đối tượng có hành vi phá rừng và chống người thi hành công vụ.
  • Phối hợp liên ngành như người dân, chủ rừng, chính quyền địa phương, lực lượng kiểm lâm… trong việc quản lý và bảo vệ rừng. Bộ máy quản lý cần phải được vận hành liên tục và thường xuyên.
  • Phát hiện, ngăn chặn và giải quyết kịp thời những hành vi đốt phá hủy hoại rừng.
  • Cần phải tăng cường sự quản lý trong việc khai thác rừng. Cách tốt nhất về lâu dài là chỉ cho phép những chủ rừng được khai thác theo phương án quản lý và bảo vệ rừng được duyệt.

đốt rừng làm nương rẫy

Khắc phục hạn chế trong tuyên truyền, giáo dục phòng chống đốt phá rừng

Công tác tuyên truyền, giáo dục và phổ biến pháp luật bảo vệ rừng hiện nay vẫn còn hạn chế, chưa đúng mức. Người thực hiện công việc này có khi chưa có nhiều kinh nghiệm và cách tuyên truyền không phù hợp. Dẫn đến người dân không hiểu dẫn đến tình trạng đốt rừng làm nương rẫy vẫn diễn ra.

Đặc biệt ở những nơi vùng sâu vùng xa, người dân thường không thấy được sự cần thiết của việc bảo vệ rừng. Do đó, họ vẫn tiếp tục đốt rừng làm nương rẫy; thậm chí tiếp tay cho những kẻ buôn bán gỗ trái phép hoạt động.

Chính vì vậy, để khắc phục tình trạng đốt rừng làm nương rẫy hiệu quả thì cần phải đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục cho người dân về luật bảo vệ rừng.

Những trường hợp đốt phá rừng thì cần xét xử lưu động tại địa phương ở những nơi đông dân cư, tập trung nhiều đồng bào dân tộc thiểu số. Thông qua đó, người dân được tuyên truyền pháp luật và răn đe để có ý thức chấp hành luật về bảo vệ rừng tốt hơn.

Trên đây là thực trạng đốt rừng làm nương rẫy và các biện pháp khắc phục hiệu quả nhất. Rừng phòng hộ đóng vai trò quan trọng đối với môi trường sinh thái, biến đổi khí hậu; con người, sự phát triển kinh tế xã hội. Do đó, mỗi người cần phải có ý thức bảo vệ rừng ngay từ hôm nay; để bảo vệ cuộc sống xanh – sạch – đẹp của chúng ta.

Dấu chân carbon là gì? 6 cách giảm dấu chân các-bon cứu lấy trái đất

Dấu chân carbon là lượng phát thải CO2 mỗi người sinh ra có thể gây hại đối với môi trường. Dấu chân các-bon của mỗi người sẽ khác nhau. Để giảm thiểu sự ô nhiễm môi trường thì mỗi người cần phải có biện pháp làm giảm lượng CO2 phát thải ra.

Dấu chân carbon là gì?

Năm 1979, ý tưởng dấu chân các-bon được hình thành lần đầu tiên trong một cuộc họp của Ủy ban năng lượng Vườn quốc gia Yosemite.

Dấu chân carbon nói về lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính do một người tạo ra, có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp.

Phát thải trực tiếp khí nhà kính là sử dụng năng lượng như lái xe, sử dụng thiết bị điện. Gián tiếp là sử dụng bất kể một thứ gì đó mà dùng năng lượng để sản xuất ra chẳng hạn như quần áo, đồ ăn…

Dấu chân carbon

Mãi đến năm 2007, thuật ngữ dấu chân các-bon mới được đưa vào sử dụng trong báo cáo khoa học đầu tiên về biến đổi khí hậu của IPCC (Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu).

Những tác động của mỗi người đến môi trường như thế nào, hoạt động hàng ngày thải vào khí quyển lượng CO2 bao nhiêu… Các số lượng này sẽ được tính toán đo lường và hiển thị bằng dấu chân các-bon. Nếu số dấu chân carbon càng lớn thì tác động xấu đến môi trường càng lớn.

Cách tính số dấu chân carbon

Để tính được số dấu chân các-bon thì cần dựa vào nhiều yếu tố. Chẳng hạn như:

  • Địa điểm sinh sống
  • Năng lượng sử dụng là gì
  • Dũng những sản phẩm công nghệ nào, sử dụng như thế nào
  • Phong cách sống là gì
  • ….

Ở nước ta, chỉ số CF trung bình là gần 1,18 tấn/người/năm.

Cách được sử dụng để tính toán lượng khí thải các – bon tốt nhất là dựa trên mức độ tiêu thụ nhiên liệu của mỗi người. Sau đó, cộng dồn phát thải CO2 vào dấu chân các-bon của mình.

Bảng lượng phát thải CO2 của các nguyên liệu phổ biến nhất

Dấu chân các-bon

Chẳng hạn: Xe máy tiêu thụ 2,5 lít xăng cho 100km, khi quảng đường 200km thì sẽ tiêu thụ hết 2,5 x 2 = 5 lít xăng. Việc này sẽ làm tăng 5 x 2,3 kg = 11,5 kg CO2 vào dấu chân các-bon của bạn.

Biện pháp giảm dấu chân carbon

Có nhiều cách để giảm dấu chân các-bon, bao gồm:

Áp dụng thuế các-bon

Các nước trên thế giới đã bắt đầu áp dụng thuế các-bon để làm giảm lượng khí thải nhà kính.

Đan Mạch áp dụng thuế carbon bắt đầu từ năm 1992, Canadan áp dụng từ năm 2007, Columbia năm 2008, Australia năm 2012. Ở Ấn Độ, thuế các-bon được tính là 50 Rupi/1 tấn than.

Ở các nước phát triển khu vực châu Á – Thái Bình Dương quy định, mỗi một doanh nghiệp sẽ phải nộp 10 USD/1 tấn CO2 thải ra.

Đánh giá nguồn tài nguyên và xây dựng chiến lược tăng trưởng carbon dài hạn

Ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương không chỉ đối mặt với ô nhiễm môi trường mà còn phải đối mặt với cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên và biến đổi khí hậu. Do đó, chính phủ những nước cần phải đánh giá được chính xác nguồn tài nguyên thiên nhiên của nước mình. Đồng thời, cần phải xây dựng Chiến lược tăng trưởng các-bon dài hạn. Luật hóa những chính sách tài chính: Đánh thuế Các – bon để giúp định hướng nền kinh tế và duy trì lượng khí thải nhà kính thấp nhất.

Dấu chân carbon

Bên cạnh đó, mỗi cá nhân có thể làm giảm tác động của bản thân lên môi trường trái đất bằng những thay đổi nhỏ trong sinh hoạt hàng ngày.

Chế độ ăn bền vững hơn

Loại thực phẩm gây ra dấu chân carbon lớn nhất là sữa bò và thịt bò.

Các sản phẩm có chứa sữa bò như sữa chua, phô mai, bơ. Thay vì lạm dụng sử dụng chúng có thể thay thế bằng sữa chua từ sữa dừa, sữa hạnh nhân, socola thuần.

Đa số những lựa chọn thay thế này đều lành mạnh hơn những sản phẩm tương tự được chế biến từ sữa động vật.

Mặc đủ ấm khi lạnh không phải bật thêm lò sửa

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, 22% lượng khí thải nhà kính do hệ thống lò sưởi và 14% do đun nước nóng. Các con số này chắc chắn sẽ thay đổi khi môi trường sống lạnh hơn và cần phải sưởi ấm bằng cách bật lò sưởi ấm liên tục.

Để có thể giảm được lượng năng lượng tiêu thụ này bằng cách mặc đủ ấm khi trời lạnh thay vì việc lạm dụng bật lò sưởi thường xuyên.

Sử dụng quần áo giữ nhiệt, chăn đệm đủ ấm, tất đi dài dày là những cách đơn giản để giữ ấm mà không cần phải dùng lò sưởi.

Tắt các thiết bị điện tử khi không sử dụng

Theo nghiên cứu mới, có đến 800.000 tấn khí thải/năm được thải ra do thiết bị điện ở chế độ chờ của những gia đình ở Anh. Chính phủ Anh đang xem xét để đưa ra giải pháp làm giảm mức độ ô nhiễm bằng cách làm việc với những nhà sản xuất thiết bị điện tử.

Để giảm dấu các – bon do thiết bị điện gây ra, cách đơn giản là mỗi khi không sử dụng chúng ta hãy rút điện, tắt tất cả các thiết bị điện.

Tái chế mọi thứ có thể

Theo nghiên cứu, có một loại hóa chất mới được phát hiện ở đại dương biến rác thải nhựa thành những hạt nhỏ li ti. Điều này có nghĩa những hạt nhỏ này có thể lẫn vào nước, thực phẩm. Do đó, cần phải thực hiện tốt việc tái chế rác thải và phòng ngừa ô nhiễm.

Chẳng hạn, những lon kim loại được thải ra ở nước Anh được tái chế thì Anh đã giảm được 14 triệu thùng rác để đựng.

Tái chế giấy để giảm lượng rác thải ra môi trường gây ô nhiễm.

Có thể giúp giảm dấu chân các – bon, bảo vệ hành tinh xanh – sạch – đẹp hơn, chúng ta chỉ cần bỏ một ít thời gian hàng ngày để phân loại rác, Như vậy đã làm giảm được lượng rác thải đem ra bãi chứa.

Sử dụng bao bì tái chế được

Các loại bao bì bánh kẹo, túi bóng nhựa mỏng không thể tái chế và thường được đen ra bãi rác chôn lấp. Vì thế, muốn giảm được lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính thì nên sử dụng những sản phẩm đựng trong bao bì có thể tái chế được. Tuy nhiên, việc dùng bao bì có thể tái chế được gây tốn kém hơn.

Trồng cây

Mỗi một canh xanh tiêu thụ gần 24 kg khí CO2/năm. Do đó, mỗi người chỉ cần góp sức nhỏ bé trồng một cây xanh cũng đã gióp phần bảo vệ trái đất khỏi bị ô nhiễm môi trường, giảm dấu chân carbon hiệu quả.

Phát triển vùng đệm có vai trò gì? Biện pháp phát triển hiệu quả

Phát triển vùng đệm là vấn đề hết sức quan trọng; bởi hệ thống động thực vật tự nhiên trong các khu bảo tồn đang bị suy thoái. Đồng thời, ở phía ngoài những khu bảo tồn lại phải chịu sức ép của người dân. Vậy vùng đệm là gì? Phát triển vùng đệm có vai trò như thế nào? Cùng tìm hiểu ngay sau đây nhé.

Vùng đệm là gì?

Vùng đệm được hiểu là vùng đất, vùng rừng, vùng mặt nước nằm giáp ranh giới của khu dùng đặc dụng; đóng vai trò ngăn chặn và giảm thiểu sự tác động tiêu cực đến khu rừng đặc dụng.

Phạm vi của vùng đệm

Phạm vi của vùng đệm bao gồm: Vùng rừng, đất ngập nước, đất có dân cư sinh sống, vùng biển tiếp giáp ranh giới ngoài. Hoặc có thể nằm ở trong phạm vi ranh giới rừng đặc dụng; đóng vai trò phòng ngừa, giảm thiểu sự xâm hại đối với khu rừng đặc dụng.

  • Phạm vi của vùng đệm sẽ được xác định cùng một lúc với việc thành lập dự án khu rừng đặc dụng; do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thông quy định.
  • Được xác định rõ ràng trên bản đồ và thực địa.
  • Vùng đệm sẽ được quy hoạch sử dụng đất đai, tài nguyên thiên nhiên sao cho phù hợp với mục tiêu và nâng cao đời sống dân sinh, phát triển kinh tế xã hội bền vững.

Phát triển vùng đệm

Đặc điểm vùng đệm

  • Vùng đệm là vùng nằm ở giáp ranh của rừng đặc dụng số lượng loài ở vùng này ít hơn.
  • Độ đa dạng sinh học cao hơn bởi có khả năng biến dị nội bộ giữa các loài tăng.
  • Có một số loài không hề có ở giữa hai hệ sinh thái chính.
  • Có hệ thực vật chuyển tiếp giữa 2 quần xã khác nhau, nên hệ động vật cũng khác nhau.
  • Vùng đệm có thể bị biến đổi do chính những sinh vật sống trong hệ.

Phát triển vùng đệm có vai trò gì?

Phát triển vùng đệm đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, phát triển xã hội và ổn định an ninh quốc phòng. Cụ thể như sau:

Phát triển kinh tế

Mục tiêu đặt ra, trong thời kỳ từ năm 2015 – 2020, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất của vùng đệm tăng 8%. Trong đó, giá trị sản xuất lâm – nông – ngư nghiệp tăng trung bình 5%; giá trị sản xuất công nghiệp – xây dựng tăng trung bình 12%; giá trị dịch vụ tăng 13,5%.

Giai đoạn từ 2021 – 2030 tăng tưởng 10,1%. Bao gồm: giá trị sản xuất lâm – nông – ngư nghiệp tăng trung bình 5,5%; giá trị sản xuất công nghiệp – xây dựng tăng trung bình 12,5%; giá trị dịch vụ tăng 14%.

Phát triển vùng đệm chuyển dịch cơ cấu từ lân nghiệp sang phi nông nghiệp. Mục tiêu năm 2020, tỷ trọng ngành nông – lâm – ngư nghiệp giảm còn 45%, công nghiệp – xây dựng tăng 18% và dịch vụ tăng 36%. Đến năm 2030 thì tương ứng là 32%, 45% và 22,5%.

Thu nhập bình quân đầu người đến năm 2020 tăng lên 25 triệu đồng, năm 2030 tăng lên 110 triệu đồng.

Phát triển vùng đệm

Phát triển văn hóa – xã hội

  • Đến năm 2020, tỷ lệ dân số phát triển tự nhiên đạt 1,1%, năm 2030 còn khoảng 1%.
  • Giai đoạn 2015 – 2020 giải quyết việc làm cho 4000 người và giai đoạn 2021 – 2030 khoảng 4200 người.
  • 100% các xã trong cả nước hoàn thành được phổ cập trung học đúng với độ tuổi vào năm 2020. Khoảng 90% trường trung học đạt được chuẩn quốc gia cấp độ 1 và 50% trường đạt chuẩn cấp độ 2. Trường trung học cơ sở đạt chuẩn quốc gia khoảng 70% và 100% xã phổ cập trung học cơ sở. Đến năm 2030, tỷ lệ trường trung học đạt chẩn quốc gia cấp độ 1 là 100% và cấp độ 2 khoảng 70%.
  • Giai đoạn 2015 – 2020 giảm tỷ lệ hộ nghèo 2,1%, đến giai đoạn 2021 – 2030 còn 2%. Cụ thể đến năm 2020 tỷ lệ hộ nghèo còn 25% và năm 2030 còn khoảng 13 – 15%.

Môi trường

Mục tiêu phát triển vùng đệm trong lĩnh vực môi trường bao gồm:

  • Đến năm 2010: Số hộ dân có công trình vệ sinh tự hoạt đạt khoảng 80%; và 70% tỷ lệ xử lý, thu gom rác thải ở những khu vực đô thị. Đến năm 2030 tỷ lệ này tương ứng là 90% và 100%.
  • Tất cả nhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp, cụm công nghiệp đều có hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn.
  • Độ che phủ rừng đến năm 2020 là 92% và 2030 đạt 93,5%.

Xây dựng cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ quản lý

  • Mục tiêu đến năm 2020 tỷ lệ số hộ đạt chuẩn văn hóa khoảng 50%, thôn và làng văn hóa đạt 35%. Đến năm 2030 tỷ lệ này tương ứng là 70% và 45%.
  • Xây dựng đội ngũ nhân lực có năng lực, trình độ đáp ứng tốt nhất nhu cầu phát triển vùng đệm theo những mục tiêu, định hướng đã đề ra. Cụ thể, đến năm 2020, 50% số nhân lực đã qua đào tạo, trong đó đào tạo nghề khoảng 40%. Đến năm 2030, con số này nâng lên là 65% và 55%.
  • Tỷ lệ dân cư ở vùng đệm được sử dụng nước sinh hoạt đảm bảo vệ sinh chiếm khoảng 80%, năm 2030 nâng lên 90%.
  • Có 80% xã đạt chuẩn y tế cấp quốc gia vào năm 2020 và 95% vào năm 2030.
  • Cố gắng phấn đấu giảm tuer lệ trẻ em bị suy dinh dưỡng còn 15% vào năm 2020 và 10% vào năm 2030.
  • Bên cạnh đó cần phải đảm bảo an toàn trật tự, an ninh quốc gia, bảo vệ chủ quyền biên giới bền vững.

Phát triển vùng đệm

Biện pháp phát triển vùng đệm

Để phát triển vùng đệm thì cần phải thực hiện các biện pháp sau đây:

  • Khuyến khích, tổ chức những biện pháp nhằm thu hút dân sinh ở vùng đệm thực hiện ngăn chặn, tố cáo hành vi xâm hại vào khu rừng đặc dụng. Cũng như tham gia quản lý rừng đặc dụng, thực hiện dự án đầu tư vùng đệm.
  • Cần nâng cao đời sống cho người dân sống trong vùng đệm để giảm thiểu việc sử dụng tài nguyên rừng bừa bãi trong khi rừng đặc dụng.
  • Cần có sự phối hợp của địa phương vùng đệm với ban quản lý rừng đặc dụng tổ chức triển khai thực hiện các dự án đầu tư vùng đệm.
  • Khuyến khích người dân, chính quyền địa phương vùng đệm tham gia quản lý, quy hoạch các hoạt động bảo tồn rừng đặc dụng.
  • Quản lý việc sử dụng tài nguyên rừng đúng với quy định của nhà nước và quy hoạch bảo vệ, phát triển rừng.
  • Lập các kế hoạch quản lý và phát triển tài nguyên thiên nhiên ở vùng đệm, rừng đặc dụng một cách bền vững.
  • Khuyến khích những dự án đầu tư phát triển vùng đệm. Đồng thời phải điều phối đươc hoạt động đầu tư này để đảm bảo mục tiêu bảo tồn.

Tóm lại, vùng đệm là vùng giáp ranh giữa hai hệ sinh thái; việc phát triển vùng đệm sẽ giúp giải quyết được nhiều khó khăn của kinh tế xã hội, môi trường sinh thái, an ninh xã hội. Đồng thời, phát triển vùng đệm cũng sẽ giúp nâng cao đời sống của người dân địa phương. Nhờ vậy mà sức ép của dân sinh lên các khu bảo tồn cũng giảm hẳn.

Redd+ là gì? Biện pháp đảm bảo an toàn trong redd+

REDD viết tắt của cụm từ “Reducing Emission from Deforestation and Forest Degradation”. Được tạm dịch là “Giảm phát thải khí nhà kính từ mất rừng và suy thoái rừng”. Vậy REDD+ là gì? Biện pháp đảm bảo an toàn trong redd + như thế nào? Cùng tìm hiểu ngay sau đây nhé!

REDD+ là gì?

Chuyên gia Nguyễn Quang Tân của Trung tâm Vì con người và rừng Việt Nam cho biết:

REDD+ được hiểu là một sáng kiến quốc tế, cung cấp và hỗ trợ tài chính cho những nước đang phát triển để giảm tình trạng khí thải gây hiệu ứng nhà kính gây biến đổi khí hậu. Việc cung cấp hỗ trợ này thông qua năm hoạt động chính sau:

  • Hạn chế mất rừng
  • Hạn chế suy thoái rừng
  • Bảo tồn trữ lượng cacbon rừng
  • Quản lý bền vững tài nguyên rừng
  • Tăng cường trữ lượng cacbon rừng

Redd+ là gì

Ý tưởng của REDD+

Hầu hết tỷ lệ diện tích rừng suy giảm và thoái hóa đều xảy ra ở những nước đang phát triển. Để nhận đươc sự hỗ trợ về tài chính của REDD + thì các nước này cần phải làm giảm tỷ lệ mất rừng và suy thoái.

Mục tiêu của redd+ không những làm giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính, biến đổi khí hậu mà còn gióp phần xóa đói giảm nghèo, bảo tồn sự đa dạng sinh học, thúc đẩy sự phát triển lâm nghiệp…

Cây xanh trong rừng trong quá trình quang hợp sẽ hút khí CO2 và nhả ra O2. Quá trình này đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc giảm nguyên nhân gây biến đổi khí hậu. Đồng thời rừng còn giúp xã hội có thể thích ứng với những tác động không mong muốn của biến đổi khí hậu.

Chẳng hạn như, ngăn chặn chặt phá rừng có thể làm giảm khoảng 20% lượng CO2 toàn cầu. Khi đó, sự ra đời của REDD+ là quá trình tất yếu và khách quan.

Vai trò của REDD+

Bên cạnh REDD+ là gì thì vai trò của nó cũng là vấn đề mà nhiều người quan tâm.

Biến đổi khí hậu ảnh hưởng nghiêm trọng đến tài nguyên thiên nhiên rừng. Ví dụ, nhiệt độ tăng cao, lượng mưa giảm có thể gây hạn hạn, cháy rừng. Khi rừng bị thiêu cháy sẽ không thể duy trì được hệ sinh thái tự nhiên, nguồn sinh kế và không thể giúp con người thích ứng được với tình trạng biến đổi khí hậu.

Trong khi đó, rừng sẽ giúp làm giảm các hiện tượng lũ lụt, xói lở đất, mưa bão, là nơi cư trú của nhiều loài động thực vật… Ngược lại, rừng cũng có thể làm tăng sự biến đổi khí hậu nếu như quản lý không được chặt chẽ. Gỗ cây bị khai thác thì cây lại trở thành nguồn khí gây hiệu ứng nhà kính. Bởi lẽ, toàn bộ carbon mà cây tàng trữ sẽ thải ra dưới dạng khí CO2. Khi đó, cây không thể hút CO2 ngoài không khí được nữa.

Hỗ trợ tài chính giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính

REDD+ ra đời nhằm cung cấp hỗ trợ các nước đang phát triển về tài chính để giảm phát thải gây hiệu ứng nhà kính do mất rừng và suy thoái rừng.

Các quốc gia sẽ đo đếm, giám sát lượng phát khí thải CO2 do diện tích rừng bị suy giảm trong nước mình. Sau một thời gian sẽ tính toán lượng giảm phát thải và số lượng tín chỉ carbon rừng có thể trao đổi trên thị trường dựa vào sự giảm thiểu này.

Khi đó, REDD+ cung cấp tài chính để tránh bị mất rừng, suy thoái rừng. Từ đó, tạo ra được sự kích thích trong quản lý rừng được bền vững. Đồng thời sẽ tạo sự bình đẳng đối với những người dân nghèo sinh sống trong, gần rừng.

Redd+ là gì

Thu hút phân phối lợi ích công bằng cho các chủ thể

REDD+ thu hút phân phối lợi ích công bằng cho các chủ thể. Cụ thể gồm:

  • Người quản lý rừng
  • Cán bộ lân nghiệp
  • Những tổ chức phi chính phủ địa phương
  • Chính quyền địa phương
  • Những nhóm xã hội dân sự có liên quan đến quản lý rừng
  • Những hộ dân sống phụ thuộc hoàn toàn vào rừng

Các chủ thể này có quyền được nhận những lợi ích từ REDD+ do họ đóng góp vào việc thực hiện REDD+.

Đánh giá mức độ sẵn sàng thực hiện REDD+ 

FCPF là quỹ đối tác các – bon trong lâm nghiệp, là đối tác toàn cầu, hỗ trợ các nước đang phát triển chuẩn bị và thực hiện REDD+. Để được tham gia vào quỹ này, thì các nước đang phát triển cần đánh giá mức độ sẵn sàng thực hiện REDD+.

Kế hoạch hành động REDD+ cấp tỉnh

Được thiết kế phục vụ cho công tác chuẩn bị và thực hiện REDD+ cấp tỉnh. Kế hoạch này bao gồm hoạt động lập kế hoạch đa ngành và đưa ra những biện pháp nhằm:

  • Cải thiện sở hữu đất rừng và quyền sử dụng đất.
  • Tăng cường sự quản lý rừng cấp tỉnh gồm quản trị pháp lý, tăng cường thực hiện pháp luật trong sử dụng rừng và thương mại gỗ.
  • Thúc đẩy các hoạt động đầu tư vào rừng để hỗ trợ và đáp ứng yêu cầu của REDD+.
  • Tạo điều kiện để cộng đồng địa phương, doanh nghiệp lâm nghiệp tham gia vào quá trình phát triển cảnh quan REDD+ trên cơ sở sử dụng rừng hợp lý và bảo vệ rừng bền vững.

Đánh giá môi trường và xã hội chiến lược

Việc đánh giá này nhằm đảm bảo mối quan tâm về môi trường, xã hội lồng ghép vào việc xây dựng chiến lược REDD+ quốc gia. Đánh giá môi trường và xã hội chiến lược thông qua xác định cơ hội và rủi ro kinh tế xã hội, môi trường trong quá trình chuẩn bị và thực hiện những hoạt động REDD+.

Biện pháp đảm bảo an toàn trong REDD+

Biện pháp đảm bảo an toàn trong REDD+ là Safeguards. Safeguards bao gồm tất cả các chính sách, quy định, thủ tục nhằm giảm tối đa những rủi ro môi trường và xã hội trong quá trình chuẩn bị và tiến hành REDD+.

Thỏa thuận Cancun đã đưa ra các nguyên tác đảm bảo an toàn trong REDD+ gồm:

  • Những hành động REDD+ phải phù hợp với các chương trình Lâm nghiệp quốc gia, thỏa thuận và hiệp định Quốc tế.
  • Tôn trọng tri thức và quyền lợi của người dân bản địa, cũng như cộng đồng địa phương.
  • Cấu trúc quản lý rừng quốc gia cần minh bạch và hiệu quả.
  • Những hành động bảo tồn rừng tự nhiên và đa dạng sinh học.
  • Các bên liên quan tham gia đầy đủ, nhất là người dân địa phương và cộng đồng địa phương.
  • Các hành động giảm sự dịch chuyển phát thải.
  • Những hành động giải quyết, khắc phục rủi ro của các tác động ngược chiều.

Trên đây là những giải đáp REDD+ là gì? Các biện pháp đảm bảo an toàn trong REDD+. Bạn đọc có thể tham khảo để hiểu hơn về chương trình này nhé!

Tổng quan về tài nguyên rừng và nguyên nhân rừng bị suy thoái trầm trọng

Tài nguyên rừng là yếu tố quan trọng nhất của bầu sinh quyển. Nó đóng vai trò to lớn trong hệ sinh thái, môi trường, sự sống của con người và sự phát triển của nền kinh tế xã hội. Hiện nay tài nguyên rừng đang bị suy thoái nghiêm trọng. Vậy nguyên nhân gây ra tình trạng này là gì?

Tổng quan về tài nguyên rừng

Tài nguyên rừng là một phần quan trọng của tài nguyên thiên nhiên. Đây là loại tài nguyên có khả năng tái tạo được. Tuy nhiên, nếu việc khai thác, sử dụng không đúng, bừa bãi thì có thể dẫn đến suy thoái và không thể tái tạo được.

Vai trò của tài nguyên rừng

  • Có vai tròng vô cùng quan trọng đối với bầu sinh quyển, khí hậu, đất đai, mùa màng.
  • Điều hòa nhiệt độ, ngăn chặn hiện tượng hiệu ứng nhà kính, điều hòa không khí, nguồn nước, bảo vệ môi trường.
  • Cung cấp các nguồn gen động thực vật quý hiếm, các lâm đặc sản rừng.
  • Ngăn ngừa, hạn chế các hiện tượng thiên tai như mưa bão, lũ quét, sạt lở đất, lũ lụt, biển xâm chiếm…
  • Là nơi cư trú, sinh sống và phát triển của nhiều loài động thực vật, đa dạng hệ sinh thái.
  • Con người có thể sử dụng tài nguyên thiên nhiên rừng để khai thác, chế biến, sử dụng các sản phẩm phục vụ đời sống.

tài nguyên rừng

Phân loại tài nguyên rừng

Ở các nới có khí hậu khác nhau thì tài nguyên thiên nhiên rừng cũng sẽ khác nhau. Có nhiều tiêu chí để phân loại tài nguyên rừng nhưng chủ yếu dựa vào:

Kiểu thảm thực vật

Sự hình thành những thảm thực vật tự nhiên với địa lý, điều kiện khí hậu có liên quan chặt chẽ được việc hình thành các kiểu rừng. Những kiểu thảm thực vật rừng trên thế giới gồm:

Rừng mưa nhiệt đới 

Đây là loại rừng có độ đa dạng sinh học cao nhất. Chế độ mưa, nhiệt độ, gió mùa của rừng mưa nhiệt đới vô cùng phức tạp nên thành phần loài, cấu trúc rừng của loại rừng này cũng rất phức tạp.

Rừng mưa nhiệt đới phân bố chủ yếu ở vùng xích đạo lưu vực sông Congo (Châu Phi), sông Amazone (Nam Mỹ), Malaysia, Ấn Độ.

Rừng  lá  kim  (rừng  Taiga)  vùng  ôn  đới

Phân bố ở vùng núi cao nhiệt đới như ở Châu Âu, Bắc Mỹ, Bắc Trung Quốc. Loại rừng này có thành phần khá đồng nhất nhưng năng suất lại thấp hơn nhiều so với vùng nhiệt đới.

Rừng rụng lá ôn đới

Được phân bố ở vùng nhiệt đới và vùng thấp hơn. Rừng rụng lá ôn đới phân bố chủ yếu ở Châu Âu, Nam Mỹ, Đông Bắc Mỹ, Australia, Nhật Bản và một phần ở Trung Quốc.

Tính chất mục đích sử dụng

Tài nguyên rừng dựa vào tính chất, mục đích sử dụng được chia thành những loại sau:

Rừng đặc dụng

Đây là loại rừng có mục đích bảo tồn sinh thái, bảo tồn thiên nhiên, các nguồn gen động thực vật quý hiến, bảo vệ di tích văn hóa, lịch sử, phục vụ nghiên cứu khoa học. Hoặc dùng để nghỉ ngơi, du lịch sinh thái.

Rừng đặc dụng gồm: Các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia, các khu lịch sử, văn hóa và môi trường.

tài nguyên rừng

Rừng phòng hộ 

Rừng phòng hộ được sử dụng nhằm bảo vệ môi trường, nguồn nước, đất, hạn chế biến đổi khí hậu, chống hạn hán thiên tai, xói mòn, bão lũ. Thường được chia thành 3 loại là rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng phòng hộ chắn sóng ven biển và rừng phòng hộ chống cát bay.

Rừng sản xuất 

Là những loại rừng dùng với mục đích để sản xuất kinh doanh gỗ, động thực vật rừng, đặc sản rừng đồng thời bảo vệ môi trường.

Nguyên nhân diện tích rừng và suy thoái rừng

Theo thống kê từ năm 1960 – 1990, độ che phủ rừng trên toàn thế giới bị giảm gần 13%, từ 37 triệu km2 xuống còn 32 triệu km2, tốc độ giảm trung bình hàng năm là 160.000 km2. Sự suy giảm này xảy ra lớn nhất ở rừng nhiệt đới, điển hình là rừng Amazone ở Brazil.

Những loại rừng bị tàn phá nhiều là:

  • Rừng khô nhiệt đới khoảng 70%
  • Rừng ôn đới lá rộng và rừng hỗn hợp khoảng 60%
  • Rừng ẩm nhiệt đới khảng 45%
  • Rừng lá kim khoảng 30%

Tài nguyên rừng nguyên sinh ở châu Á mất nhiều nhất, chiếm khoảng 70%. Nguyên nhân diện tích rừng bị suy giảm, rừng thoái hóa do nhiều yếu tố, chủ yếu do:

Mở rộng diện tích đất nông nghiệp

Chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sang canh tác nông nghiệp là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất khiến diện tích rừng bị suy giảm. Hiện nay, việc mở rộng diện tích đất nông nghiệp sản xuất lương thực ở châu Mỹ La Tinh diễn ra chậm hơn với châu Phi và châu Á.

Khai thác gỗ và những sản phẩm rừng

Tốc độ suy giảm rừng ở nhiều quốc gia hiện nay là do đẩy mạnh khai thác tài nguyên rừng phục vụ cho phát triển nền kinh tế và xuất khẩu.

Việc khai thác, buôn bán gỗ diễn ra mạnh mẽ ở các nước Đông Nam Á. Theo số liệu thống kê, ở khu vực này chiếm đến gần 50% trên thế giới, điển hình là ở Malaysia và Philippine.

Chặt phá rừng lấy củi

Nhu cầu dùng củi để đun nấu vẫn còn cao, nhất là ở châu Phi. Do đó, chặt phá rừng để lấy củi đốt cũng là một trong những nguyên nhân là cho tài nguyên rừng bị cạn kiệt.

Chăn thả gia súc

Các loại gia súc như trầu bò, cừu dê chăn thả đòi hỏi phải mở rộng các đồng cỏ. Đây cũng chính là nguyên nhân khiến cho diện tích rừng ngày càng bị suy giảm. Theo thống kê ở châu Mỹ La Tinh, tài nguyên rừng bị suy thoái do sản xuất nông nghiệp nhỏ chỉ chiếm 35%, còn lại là do chăn thả gia súc.

Cháy rừng

Là nguyên nhân tài nguyên rừng suy thoái khá phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới. Chẳng hạn như ở Mỹ, năm 2000 có đến 2,16 triệu ha rừng bị cháy. Ở Indonesia đợt cháy rừng xảy ra vào năm 1977 có đến gần 1 triệu ha rừng bị thiêu hủy…

tài nguyên rừng

Phá rừng trồng cây công nghiệp và cây đặc sản

Để phục vụ cho kinh doanh, nhiều diện tích rừng bị phá hủy để trồng cây công nghiệp, cây đặc sản. Các doanh nghiệp chỉ quan tâm đến mục đích thu được lợi nhuận khổng lồ mà không quan tâm đến môi trường.

  • Ở Pêru, người dân chặt phá rừng lấy đất để trồng côca sản xuất socola. Theo ước tính, diện tích của loại cây này chiếm đến 1/10 diện tích rừng của Pêru.
  • Ở Thái Lan, diện tích rừng chặt phá để trồng sắn phục vụ cho xuất khẩu, hoặc côca.
  • Nhiều nước khác trên thế giới phá rừng nguyên sinh để trồng cây công nghiệp như cao su, cọ dầu.

Bên cạnh đó, có nhiều nguyên nhân khác làm suy giảm tài nguyên rừng. Chẳng hạn như:

  • Các dự án phát triển kinh tế xã hôi, xây dựng cơ sở hạ tầng, thủy điện.
  • Chính sách đất đai, quản lý rừng.
  • Chính sách về di cư, định cư.
Rừng amazon ở nước nào

Rừng Amazon ở nước nào và sự đang dạng sinh học

Rừng Amazon ở nước nào là câu hỏi mà nhiều người vẫn chưa có câu trả lời rõ ràng. Vì rừng Amazon có diện tích rất rộng lớn trải dài trên nhiều quốc gia nên rất khó xác định. Để mọi người có câu trả lời chi tiết, bài viết dưới đây chúng tôi sẽ giải đáp thắc mắc này nhé.

Rừng Amazon ở nước nào?

Rừng Amazon là một khu rừng có diện tích rất rộng nằm ở Nam Mỹ. Với diện tích rộng khoảng 7 triệu km² nên nó trải dài trên 9 nước khác nhau bao gồm:

Rừng amazon ở nước nào
Rừng amazon ở nước nào
  • Brasil với diện tích khoảng 60%
  • Peru với diện tích khoảng 13 %
  • Colombia với diện tích khoảng 10%
  • Venezuela
  • Ecuador
  • Bolivia
  • Guyana
  • Surinam
  • Cùng Guyana thuộc pháp

Đây là một khu rừng bảo tồn thiên nhiên trên thế giới và là nơi dự trữ sinh quyển cho loài người. Do đó, việc bảo tồn các loài động vật quý hiếm và các loại tài nguyên, nhất là nguồn tài nguyên sinh vật tại khu vực này nhằm bảo vệ sự tồn tại và phát triển của thế giới loài người.

Đa dạng sinh học của rừng Amazon

Rừng nhiệt đới ẩm Amazon có một quần thể sinh vật vô cùng phong phú về loài.  Có khoảng 10% số loài sinh vật đã biết trên thế giới sinh sống tại rừng Amazon, nó hợp thành tập hợp lớn nhất các loài động, thực vật còn sinh tồn trên thế giới.

Đa dạng sinh học của rừng Amazon
Đa dạng sinh học của rừng Amazon

Rừng Amazon có sự đa dạng sinh học vô cùng phong phú với khoảng 2,5 triệu loài côn trùng, 2 nghìn loài chim và thú khác nhau và hàng chục nghìn loài thực vật. Theo thống kê hiện nay, nơi đây có ít nhất khoảng:

  • 3 nghìn loài cá
  • 427 loài thú
  • 378 loài bò sát
  • 40 nghìn loài thực vật
  • 1 nghìn 294 loài chim
  • 428 loài động vật lưỡng cư
  • 660-128.843 loài động vật không xương sống

Bên cạnh những con số thống kê về sự phong phú của động vật thì rừng Amazon cũng có hệ thực vật phong phú nhất thế giới. Theo thống kê cho thấy có khoảng trên 75.000 kiểu cây gỗ, 150.000 loài thực vật bậc cao và khoảng 90.790 tấn thực vật còn sinh tồn trên 1 km². Số thực vật trung bình ước tính khoảng 356 ± 47 tấn/ha và khoảng 438.000 loài thực vật có tầm quan trọng kinh tế và xã hội đã được ghi nhận.

Rừng nhiệt đới ẩm Amazon cũng là mối nguy hiểm cho con người. Vì nơi đây là nơi cư trú của nhiều loài động vật nguy hiểm như:

  • Cá xấu Caiman đen
  • Báo đốm Mỹ
  • Trăn Anaconda
  • Cá trình điện
  • Cá hổ
  • Ếch độc
  • Dơi quỷ

Tình trạng chặt phá rừng Amazon

Do sự di cư của của con người và sự phát triển của đất nông nghiệp nên tình trạng phá rừng xảy ra mạnh. Từ năm 1960 đổ lại thì diện tích rừng tự nhiên gần như là khá nguyên vẹn. Từ cuối năm 1960 đến nay, có rất nhiều trang trại nông nghiệp được hình thành bằng cách chặt phá rừng Amazon.

Nhưng do kĩ thuật trồng cấy và bảo vệ đất không tốt và sự xâm lấn của cỏ dại nên nhanh bạc màu. Đất chỉ được sử dụng một thời gian ngắn và người dân lại tiếp tục di cư sang vị trí khác. Điều này dẫn đến việc phá hủy rừng để làm đất canh tác ngày một diễn ra mạnh hơn.

Theo thống kê từ năm 1991 cho đến năm 2000, tổng diện tích rừng Amazon bị chặt phá tăng từ 415 nghìn tới 587 nghìn km². Do sự phát triển của nông nghiệp, đặc biệt là xuất khẩu đậu tương. Nhiều dự án đường cao tốc xuyên qua rừng dẫn đến diện tích rừng càng bị giảm nhanh với tốc độ trung bình từ năm 2000 (19.018 km²/năm) đến 2005 (22.392 km²/năm). Theo dự tính, với tốc độ phá hủy rừng hiện nay thì diện tích rừng nhiệt đới Amazon sẽ giảm khoảng 40%.

Nguồn tham khảo:

  1. https://vi.wikipedia.org/wiki/R%E1%BB%ABng_m%C6%B0a_Amazon
  2. https://en.wikipedia.org/wiki/Amazon_rainforest
Ngày môi trường thế giới

Ngày môi trường thế giới và những thành tựu xuất sắc

Ngày môi trường thế giới là một ngày được thành lập ra để khuyến khích mọi người nhận thức hơn về ý thức bảo vệ môi trường. Bài viết hôm nay, chúng tôi sẽ giới thiệu chi tiết hơn về ngày môi trường thế giới để mọi người có thể hiểu hơn nhé.

Ngày môi trường thế giới là ngày gì?

Ngày môi trường thế giới ( tiếng anh là World Environment Day – viết tắt là WED) được tổ chức vào ngày 5 tháng 6 hàng năm. Ngày này được tổ chức Liên Hợp Quốc thành lập nhằm mục đích khuyến khích nhận thức và hành động bảo vệ môi trường.

Ngày môi trường thế giới
Ngày môi trường thế giới

Ngày 5 tháng 6 năm 1972, nhân dịp ngày khai mạc Hội nghị Môi trường Thế giới đầu tiên được tổ chức tại Stockholm (Thụy Điển). Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã quyết định ngày lựa chọn ngày 5 tháng 6 bắt đầu từ năm 1972 là ngày môi trường thế giới và giao cho Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (United Nations Environment Programme) tổ chức sự kiện này.

Ngày 15 tháng 12 năm 1972, trong buổi họp của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã ra quyết nghị chính thức. Ngày 5 tháng 6 năm 1974 là ngày tổ chức đầu tiên với chủ đề “Chỉ có một Trái đất”. Đây là chiến dịch quan trọng giúp nâng cao nhận thức của mọi người về các vấn đề môi trường như ô nhiễm, sự nóng lên của toàn cầu, bùng nổ dân số, tiêu dùng bền vững và tình trạng săn bắt động vật hoang dã.

Ngày môi trường thế giới đã phát triển nhanh chóng để trở thành một nền tảng toàn cầu để tiếp cận cộng đồng, với sự tham gia của hơn 143 quốc gia hàng năm.

Những chủ đề và thành tựu của ngày môi trường thế giới

Những dòng thời gian về những thành tựu quan trọng trong lịch sử của ngày môi trường thế giới (WED) bao gồm:

 

Ngày môi trường thế giới năm 2018

Chủ đề là “Đánh bại ô nhiễm nhựa” với mục đích cố gắng thay đổi cuộc sống hàng ngày để giảm bớt gánh nặng tình trạng ô nhiễm nhựa.

Ngày môi trường thế giới và chủ đề
Ngày môi trường thế giới và chủ đề

Nước chủ nhà tổ chức sự kiện là New Delhi, Ấn Độ và chính phủ Ấn Độ cam kết loại bỏ tất cả việc sử dụng nhựa duy nhất ở Ấn Độ vào năm 2022.

Ngày môi trường thế giới năm 2017

Chủ đề là “Kết nối con người với thiên nhiên – trong thành phố và trên đất liền, từ các cực đến xích đạo”.

Nước chủ nhà tổ chức sự kiện là Ottawa, Canada.

Ngày môi trường thế giới năm 2016

Chủ đề là “Zero Tolerance for the Illegal Wildlife trade” với mục đích giảm và ngăn chặn buôn bán trái phép động vật hoang dã.

Nước chủ nhà tổ chức sự kiện là Luanda, Angola.

Ngày môi trường thế giới năm 2015

Chủ đề là “Bảy tỷ giấc mơ. Một hành tinh. Tiêu dùng cẩn thận”

Nước chủ nhà tổ chức sự kiện là Rome, Italy.

Ngày môi trường thế giới năm 2014

Chủ đề là “Raise your voice, not the sea level” và được diễn viên Lan Somerhalder là đại sứ thiện chí chính thức.

Nước chủ nhà tổ chức sự kiện là Bridgetown, Barbados.

Ngày môi trường thế giới năm 2013

Chủ đề là “Think.Eat.Save. Reduce Your Foodprint” với mục đích giúp nhận thức ở các quốc gia có lối sống dẫn đến lãng phí thực phẩm và trao quyền cho mọi người đưa ra lựa chọn sáng suốt về thực phẩm họ ăn để giảm tác động sinh thái tổng thể do sản xuất thực phẩm trên toàn thế giới.

Nước chủ nhà tổ chức sự kiện là Ulaanbaatar, Mongolia (Mông Cổ).

Ngày môi trường thế giới năm 2012

Chủ đề là “Kinh tế Xanh: Có bao gồm bạn không? ” với mục đích mời mọi người kiểm tra các hoạt động và lối sống của họ và xem khái niệm “Kinh tế xanh” phù hợp với nó như thế nào.

Nước chủ nhà tổ chức sự kiện là Brasilia, Brazil.

Ngày môi trường thế giới năm 2011

Chủ đề là “Forests: Nature at your Service” được tổ chức trên toàn thế giới, với các hoạt động dọn dẹp bãi biển, các buổi hòa nhạc, triển lãm, liên hoan phim, các sự kiện cộng đồng.

Nước chủ nhà tổ chức sự kiện là New Delhi, Ấn Độ.

Ngày môi trường thế giới năm 2010

Chủ đề là “Many Species. One Planet. One Future” giúp tôn vinh sự đa dạng của sự sống trên Trái đất như là một phần của Năm quốc tế về đa dạng sinh học.

Nước chủ nhà tổ chức sự kiện là Rangpur, Bnagladesh.

Ngày môi trường thế giới năm 2009

Chủ đề là “Hành tinh của bạn cần bạn – Không thể chống lại biến đổi khí hậu”.

Nước chủ nhà tổ chức sự kiện là Mexico City, Mexico.

Ngày môi trường thế giới năm 2008

Chủ đề là “Kick The Habit – Towards A Low Carbon Economy”. Đây là một chiến dịch đầy tiên cam kết đạt được tính tập chung Carbon và sẽ tập trung vào quản lý rừng như một công cụ để giảm khí thải nhà kính.

Nước chủ nhà tổ chức sự kiện là Wellington, New Zealand.

Ngày môi trường thế giới năm 2007

Chủ đề là “Băng tan – một chủ đề nóng?” tập trung vào các tác động của biến đổi khí hậu đối với các hệ sinh thái và cộng đồng vùng cực, trên các khu vực băng và tuyết.

Nước chủ nhà tổ chức sự kiện là London, England.

Ngày môi trường thế giới năm 2006

Chủ đề là Sa mạc và Sa mạc hóa với khẩu hiệu “Đừng bỏ hoang vùng đất khô cằn” với mục đích nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ vùng đất khô.

Nước chủ nhà tổ chức sự kiện là Algiers, Algeria.

Ngày môi trường thế giới năm 2005

Chủ đề là “Thành phố xanh” và khẩu hiệu là “Kế hoạch cho hành tinh!”.

Nước chủ nhà tổ chức sự kiện là San Francisco, United States.

Ngày môi trường thế giới năm 2004

Chủ đề là “Wanted! Seas and Oceans – Dead or Alive?”.

Nước chủ nhà tổ chức sự kiện là Barcelona, Spain.

Ngày môi trường thế giới năm 2003

Chủ đề là “Water – Two Billion People are Dying for It!”.

Nước chủ nhà tổ chức sự kiện là Beirut, Lebanon.

Ngày môi trường thế giới năm 2002

Chủ đề là “Give Earth a Chance”.

Nước chủ nhà tổ chức sự kiện là Shenzhen, People’s Republic of China.

Ngày môi trường thế giới năm 2001

Chủ đề là “Connect with the World Wide Web of Life”.

Nước chủ nhà tổ chức sự kiện là Torino, Italy và Havana, Cuba.

Ngày môi trường thế giới năm 2000

Chủ đề là “The Environment Millennium – Time to Act”.

Nước chủ nhà tổ chức sự kiện là Adelaide, Australia.

Ngày môi trường thế giới năm 1999

Chủ đề là “Our Earth – Our Future – Just Save It!”.

Nước chủ nhà tổ chức sự kiện là Tokyo, Japan.

Ngày môi trường thế giới năm 1998

Chủ đề là “For Life on Earth – Save Our Seas”.

Nước chủ nhà tổ chức sự kiện là Moscow, Russian Federation.

Ngày môi trường thế giới năm 1997

Chủ đề là ” For Life on Earth “.

Nước chủ nhà tổ chức sự kiện là Seoul, Republic of Korea.

Ngày môi trường thế giới năm 1996

Chủ đề là ” Our Earth, Our Habitat, Our Home “.

Nước chủ nhà tổ chức sự kiện là Istanbul, Turkey.

Ngày môi trường thế giới năm 1995

Chủ đề là ” We the Peoples: United for the Global Environment “.

Nước chủ nhà tổ chức sự kiện là Pretoria, South Africa.

Ngày môi trường thế giới năm 1994

Chủ đề là “One Earth One Family”.

Nước chủ nhà tổ chức sự kiện là London, United Kingdom.

Ngày môi trường thế giới năm 1993

Chủ đề là ” Poverty and the Environment – Breaking the Vicious Circle “.

Nước chủ nhà tổ chức sự kiện là Beijing, People’s Republic of China.

Ngày môi trường thế giới năm 1992

Chủ đề là ” Poverty and the Environment – Breaking the Vicious Circle “.

Nước chủ nhà tổ chức sự kiện là Beijing, People’s Republic of China.

Năm 1991

Chủ đề là ” Only One Earth, Care and Share “.

Nước chủ nhà tổ chức sự kiện là Rio de Janneiro, Brazil.

Năm 1990

Chủ đề là ” Climate Change. Need for Global Partnership “.

Nước chủ nhà tổ chức sự kiện là Stockholm, Swenden.

Năm 1989

Chủ đề là ” Children and the Environment “.

Nước chủ nhà tổ chức sự kiện là Mexico City, Mexico.

Năm 1989

Chủ đề là ” Global Warming; Global Warning “.

Nước chủ nhà tổ chức sự kiện là Brussels, Belgium.

Năm 1988

Chủ đề là ” When People Put the Environment First, Development Will Last “.

Nước chủ nhà tổ chức sự kiện là Bangkok, Thailand.

Năm 1987

Chủ đề là ” Environment and Shelter: More Than A Roof “.

Nước chủ nhà tổ chức sự kiện là Nairobi, Kenya.

Năm 1986

Chủ đề là ” A Tree for Peace “.

Nước chủ nhà tổ chức sự kiện là Ontario, Canada.

Năm 1986

Chủ đề là ” Youth: Population and the Environment “.

Nước chủ nhà tổ chức sự kiện là Islamabad, Pakistan.

Năm 1986

Chủ đề là ” Desertification “.

Nước chủ nhà tổ chức sự kiện là Rajshahi, Bangladesh.

Năm 1985

Chủ đề là ” Managing and Disposing Hazardous Waste: Acid Rain and Energy “.

Nước chủ nhà tổ chức sự kiện là Sylhet, Bangladesh.

Năm 1984

Chủ đề là ” Ten Years After Stockholm (Renewal of Environmental Concerns)”.

Nước chủ nhà tổ chức sự kiện là Dhaka, Bangladesh.

WED năm 1983

Chủ đề là ” Ground Water; Toxic Chemicals in Human Food Chains “.

Nước chủ nhà tổ chức sự kiện là Sylhet, Bangladesh.

WED năm 1980

Chủ đề là ” A New Challenge for the New Decade: Development Without Destruction “.

Nước chủ nhà tổ chức sự kiện là Sylhet, Bangladesh.

WED năm 1979

Chủ đề là ” Only One Future for Our Children – Development Without Destruction “.

Nước chủ nhà tổ chức sự kiện là Sylhet, Bangladesh.

WED năm 1979

Chủ đề là ” Only One Future for Our Children – Development Without Destruction “.

Nước chủ nhà tổ chức sự kiện là Sylhet, Bangladesh.

WED năm 1978

Chủ đề là ” Development Without Destruction”.

Nước chủ nhà tổ chức sự kiện là Sylhet, Bangladesh.

WED năm 1977

Chủ đề là ” Ozone Layer Environmental Concern; Lands Loss and Soil Degradation”.

Nước chủ nhà tổ chức sự kiện là Sylhet, Bangladesh.

WED năm 1976

Chủ đề là ” Water: Vital Resource for Life “.

Nước chủ nhà tổ chức sự kiện là Ontario, Canada.

WED năm 1975

Chủ đề là ” Human Settlements “.

Nước chủ nhà tổ chức sự kiện là Dhaka, Bangladesh.

WED năm 1974

Chủ đề là ” Only one Earth during Expo 74 “.

Nước chủ nhà tổ chức sự kiện là Spokane, United States.

Nguồn tham khảo:

  1. https://en.wikipedia.org/wiki/World_Environment_Day
  2. https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C3%A0y_M%C3%B4i_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Th%E1%BA%BF_gi%E1%BB%9Bi
Tài nguyên thiên nhiên là gì

Các dạng tài nguyên thiên nhiên là gì và những vai trò

Tài nguyên thiên nhiên là gì? Đây là một câu hỏi mà nhiều người không trả lời được. Mặc dù chúng ta vẫn tận mắt nhìn thấy những loại tài nguyên thiên nhiên khác nhau nhưng lại không nhận ra. Để mọi người có thể hiểu rõ hơn về tài nguyên thiên nhiên, mời tìm hiểu bài viết dưới đây nhé!

Tài nguyên thiên nhiên là gì?

Tài nguyên thiên nhiên là những tài nguyên, vật chất tồn tại săn trong tự nhiên mà không phải do con người tạo nên. Những tài nguyên có sẵn trong thiên nhiên bao gồm tất cả các đặc tính có giá trị như lực hấp dẫn, tính chất điện và lực bao gồm ánh sáng mặt trời, nước, khí quyển, đất, cây trồng, thảm thực vật và các loài động vật sống hoang dã.

Tài nguyên thiên nhiên là gì
Tài nguyên thiên nhiên là gì

Các dạng tài nguyên thiên nhiên

Để phân loại tài nguyên thiên nhiên, người ta thường chia ra thành các nhóm như nguồn gốc, giai đoạn phát triển, khả năng tái tạo.

Các dạng tài nguyên thiên nhiên
Các dạng tài nguyên thiên nhiên

Tài nguyên thiên nhiên theo cơ sở nguồn gốc

Nhóm tài nguyên thiên nhiên sinh học bao gồm:

  • Rừng
  • Động vật
  • Các vật liệu có thể thu được từ chúng
  • Nhiên liệu hóa thạch
  • Than đá dầu mỏ

Nhóm tài nguyên thiên nhiên phi sinh học bao gồm:

  • Đất
  • Nước
  • Không khí
  • Kim loại nặng như vàng, đồng, sắt, bạc, kim cương
  • Đất hiếm

Tài nguyên thiên nhiên theo giai đoạn phát triển

Tài nguyên thiên nhiên tiềm năng là những tài nguyên có thể được sử dụng trong tương lai như dầu mỏ trong đá trầm tích.

Tài nguyên thiên nhiên thực tế là những tài nguyên đã được khảo sát, định lượng và đủ điều kiện đang được sử dụng như chế biến gỗ.

Tài nguyên thiên nhiễn dự trữ là một phần nhỏ của tài nguyên thực tế có thể được phát triển lợi nhuận cao trong tương lai.

Tài nguyên thiên nhiên chứng khoán là nhóm tài nguyên đã được khảo sát, nhưng không thể được sử dụng do thiếu công nghệ như Hydro.

Tài nguyên thiên nhiên theo thành phần tái tạo hoặc không tái tạo

Những tài nguyên thiên nhiên có thể tái tạo bao gồm ánh sáng mặt trời, không khí, gió, nước. Đây là những nhóm tài nguyên thiên nhiên có số lượng lớn và có sẵn liên tục. Mặc dù có thể tái tạo nhưng có tốc độ phục hồi không nhanh, nếu sử dụng quá mức sẽ có thể dẫn đến cạn kiệt.

Tài nguyên thiên nhiên không tái tạo bao gồm những kim loại nặng như vàng, đồng, sắt, bạc, kim cương, đất hiếm, than đá, đá vôi, dầu mỏ. Đây là những nhóm tài nguyên không thể tái tạo hoặc tái tạo rất chậm. Để sử dụng những tài nguyên này thì người ta thường cho vào chế biến tái sử dụng lại nhiều lần.

Vai trò của tài nguyên thiên nhiên

Tài nguyên thiên nhiên có ảnh hưởng rất lớn đến trái đất và sự sống của con người và các sinh vật khác. Những vai trò của tài nguyên thiên nhiên đối với con người bao gồm:

Vai trò của tài nguyên thiên nhiên
Vai trò của tài nguyên thiên nhiên

Vai trò đối với nền kinh tế

Tài nguyên thiên nhiên chính là điều kiện cần để phát triển nền kinh tế. Khi chúng ta biết cách khai thắc những tài nguyên thiên nhiên này một cách hợp lý và hiệu quả sẽ giúp nền kinh tế phát triển tốt hơn.

Những tài nguyên thiên nhiên như quặng kim loại (sắt, đồng, vàng, bạc…) sẽ giúp nền kinh tế công nghiệp phát triển mạnh. Nó cũng là tài nguyên giúp phát triển các ngành sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, sản xuất thủy tinh, vật liệu xây dựng, sành sứ,…

Vai tròng đối với sự phát triển ổn định của đất nước

Tài nguyên thiên nhiên là cơ sở tích lũy vốn giúp phát triển ổn định như:

  • Việc tích lũy vốn đòi hỏi quá tình lâu dài
  • Liên quan chặt chẽ với tiêu dùng trong nước và thu hút vốn đầu tư nước ngoài
  • Nhiều quốc gia, nhờ ưu đãi của tự nhiên mà có nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng nên có thể rút ngắn quá trình tích lũy vốn
  • Tạo ra nguồn tích lũy vốn ban đầu cho sự công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
  • Có vai trò quan trọng trong việc phát triển các ngành công nghiệp chế biến, khai thác và cung cấp nguyên nhiên liệu cho ngành kinh tế khác
  • Giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nước

Hiện trạng của tài nguyên thiên nhiên

Theo thống kê chung hiện nay, hiện trạng các tài nguyên thiên nhiên đang có xu hướng đi xuống. Số lượng và chất lượng đang dần bị thu hẹp mà nguyên nhân chính là do quá trình sử dụng của con người.

Diện tích tài nguyên rừng thiên nhiên đang bị thu hẹp với tốc độ nhanh chóng ở khaorng thời gian gần đây. Tình trạng diện tích rừng tự nhiên bị thu hẹp dần dẫn đến các loài sinh vật quý hiếm mất đi chỗ cư trú. Theo thống kê ở Việt Nam có khoảng hơn 100 loài động vật và 100 loài thực vật có nguy cơ tuyệt chủng cao. Và đã có nhiều loài động thực vật vật không còn được tìm thấy trên thế giới.

Tài nguyên nước cũng là vấn đề thời sự nóng hiện nay. Theo thống kê đến năm 2025, có khoảng 75% dân số trên thế giới phải sống trong môi trường thiếu nước trầm trọng và đặc biệt là có Việt Nam.

Tài nguyên thiên nhiên như khoáng sản và quặng kim loại đang dần một cạn kieeht dần do quá trình khai thác bừa bãi, không có quy hoạch cụ thể. Tài nguyên đất canh tác cũng dần trở nên hạn hẹp và kém năng suất do quá trình sử dụng lãng phí bừa bãi gây ô nhiễm, và do sự phát triển của nông nghiệp, công nghiệp và cả dịch vụ, diện tích nhiễm mặn và hoang mạc hoá.

Biện pháp bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

Với sự suy giảm và can kiệt của tài nguyên thiên nhiên, đã có nhiều công bố cần phải bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Năm 1982, Liên Hợp Quốc đã xây dựng ra Hiến chứng Tự nhiên Thế giới nhằm công nhận cần phải bảo vệ tài nguyên thiên nhiên khỏi sự sử dụng của con người.

Sinh học bảo tồn là một nghiên cứu khoa học về hiện trạng và bản chất đa sinh học của Trái đất với mục đích bảo vệ hệ sinh thái khỏi sự tuyệt chủng. Thuật ngữ “sinh học bảo tồn” là tiêu đề của một hội nghị được tổ chức tại đại học California, San Diego ở La Jolla, California, vào năm 1978, do các nhà sinh vật học Bruce A Wilcox.

Như vậy chúng ta đã cùng nhau tìm hiểu về định nghĩa tài nguyên thiên nhiên là gì và những vai trò của nó. Hi vọng với những kiến thức ở bài viết trên sẽ giúp mọi người có thể hiểu hơn về vấn đề này.

Nguồn tham khảo:

  1. https://en.wikipedia.org/wiki/Natural_resource
  2. https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A0i_nguy%C3%AAn_thi%C3%AAn_nhi%C3%AAn