Trồng cây xanh và trồng rừng ở vùng thành phố và ở khu công nghiệp để nhằm mục đích gì?

Hiện nay, quá trình đô thị hóa ngày càng diễn ra mạnh mẽ. Không gian sống xanh ngày càng bị thu hẹp, thay vào đó là những khu đô thị, nhà cao tầng. Không gian sống trở nên bức bối, chật hẹp khó chịu. Chính vì vậy việc trồng cây xanh là hết sức cần thiết. Cùng tìm hiểu rõ hơn trồng cây xanh và trồng rừng ở vùng thành phố và ở khu công nghiệp để nhằm mục đích gì trong bài viết dưới đây.

Mục đích trồng cây xanh, trồng rừng ở thành phố và khu công nghiệp

Trồng cây xanh, trồng rừng được nhiều nơi phát động đặc biệt là ở khu vực thành phố, khu công nghiệp, nơi rừng đầu nguồn. Một câu hỏi được đặt ra trồng cây xanh và trồng rừng ở vùng thành phố và ở khu công nghiệp nhằm mục đích gì? Sau đây là giải đáp thắc mắc này:

Trồng cây xanh và trồng rừng ở vùng thành phố và ở khu công nghiệp để nhằm mục đích gì?

Cây xanh được coi là “Lá phổi” của đô thị

Các dự án xây dựng đô thị hiện nay khi được quy hoạch thường kèm theo diện tích để xây dựng không gian xanh, giải trí cho người dân. Trong quy hoạch đô thị, cây xanh đóng vai trò là lá phổi xanh của đô thị điều hòa không khí, nguồn nước, giảm tiếng ồn…

Không gian xanh ở các khu đô thị, công nghiệp giúp đáp ứng nhu cầu sống trong môi trường trong lành, xanh – sạch – đẹp.

Hệ thống cây xanh, rừng cây giữ độ ẩm cho đất và không bị năng lượng mặt trời nung nóng. Nếu không có cây xanh thì:

  • Đường nhựa, bê tông bị nung nóng tỏa ra nhiệt lượng làm không khí nóng bức, khó chịu hơn.
  • Động cơ, điều hòa cũng làm cho không khí ở thành phố, đô thị và khu công nghiệp nóng hơn.
  • Lượng bụi bẩn, khí thải độc hại trong không khí ngày càng gia tăng.

Ngược lại, những hàng cây xanh trong thành phố, đô thị xen kẽ với các chung cư, nhà cao tầng… sẽ giúp không khí được điều hòa, giảm nóng bức, khó chịu. Những con đường rợp bóng mát, người đi đường sẽ thoải mái, dễ chịu tránh được sự ảnh hưởng của ánh nắng gay gắt của mặt trời vào mùa hè nóng nực.

Không chỉ là lá phổi xanh điều hòa không khí, cây xanh còn giúp cung cấp hoa quả, gỗ tươi cho người dân đô thị.

Trồng cây xanh và trồng rừng ở vùng thành phố và ở khu công nghiệp để nhằm mục đích gì?

Xây dựng một nơi ở có chất lượng sống tốt

Các hoạt động cộng đồng, giải trí, giao tiếp của người dân thường diễn ra ở các công viên. Đây là nơi dùng để tập thể dục thư giãn, tái tạo sức lao động, nâng cao sức khỏe con người.

Trong quy hoạch đô thị, việc trồng cây xanh ở công viên không chỉ tạo không gian cảnh quan mà còn giúp cải thiện môi trường sống cho con người. Hiện nay, dân số tập trung ở các đô thị, thành phố, khu công nghiệp rất lớn. Lượng khí thải CO2, bụi bẩn, hóa chất công nghiệp khác được thải ra môi trường với số lượng khổng lồ. Nếu không có cây xanh và rừng hấp thụ CO2, cung cấp khí O2 thì môi trường sống bị ảnh hưởng nặng nề, đe dọa cuộc sống của con người.

Cây xanh hấp thụ CO2, giúp khí bụi, chất độc hại có trong không khí, nhả khí O2 giúp không khí được trong lành, dễ chịu hơn.

Cây xanh tái tạo không gian sống trong lành, tươi mát, thu hút chim muông. Ở những khi công nghiệp, đô thị chỉ có sát, thép, bê tông khói bụi thì việc điểm xuyết cây cối, hoa lá xanh tươi sẽ làm dịu mát, dễ chịu, giảm căng thẳng, stress cho người dân.

Ở các khu đô thị, công nghiệp, cây xanh còn giúp giảm tiếng ồn. Ở khu vực ngoại thành, việc trồng cây xanh và trồng rừng còn giúp điều hòa mực nước ngầm và chống xói mòn hiệu quả.

Phòng ngừa ô nhiễm nước, không khí tại đô thị và các khu công nghiệp

Khí thải, nước thải công nghiệp, sinh hoạt thải ra từ các khu đô thị, dân cư, khu công nghiệp rất lớn. Trồng cây xanh và trồng rừng ở vùng thành phố và ở khu công nghiệp để nhằm mục đích gì? Cây xanh đóng vai trò thanh lọc chất độc hại, bụi bẩn, trả lại sự trong lành cho không khí. Cũng như miếng bọt biển thanh lọc, tái tạo nguồn nước ngầm sạch tự nhiên.

Có thể thấy được vai trò của cây xanh trong công viên ở đô thị, khu công nghiệp đối với cuộc sống của người dân tại đây. Vì thế, việc quy hoạch hình thành hệ thống cây xanh đạt theo tiêu chuẩn đô thị là hết sức cần thiết. Để có thể thực hiện được thì cần sự quyết tâm lớn của chính quyền và dân cư.

Ngoài ra, chính quyền thành phố, tỉnh huyện nơi có các khu đô thị, công nghiệp cần hoàn thiện hơn quy định, chính sách quản lý quy hoạch và phát triển hệ thống cây xanh.

Trồng cây xanh và trồng rừng ở vùng thành phố và ở khu công nghiệp để nhằm mục đích gì?

Tán cây xanh giúp giảm tiếng ồn

Không chỉ mang lại bầu không khí trong lành, bảo vệ trẻ nhỏ, trồng cây xanh và trồng rừng tại các đô thị, khu công nghiệp còn giúp giảm cường độ tiếng ồn.

Tán cây dày rộng với lượng lá dày đặc giúp hấp thực âm thanh lơn, cường độ tiếng ồn được khuếch tán. Các tiếng ồn thường gặp như tiếng ồn của phương tiện giao thông, máy móc… Những tiếng ồn này qua lá cây sẽ hấp thụ sống âm giúp âm thanh xuống hiệu quả. Theo chứng minh của các nhà khoa học, tiếng ồn giảm 35% nếu dải cây xanh rộng 15m, giảm 40% nếu dải cây xanh rộng 25m.

Như vậy, việc trồng cây xanh ở khu đô thị, thành phố, ở các khu công nghiệp, hai bên đường phố giảm giảm tiếng ồn hiệu quả. Đồng thời cũng tạo không gian sống xanh – sạch – đẹp hơn.

Cây xanh bảo vệ trẻ em

Không gian xanh đặc biệt tốt cho sự phát triển của trẻ nhỏ. Nếu trong thành phố, đô thị không có cây xanh, trẻ em, người dân đều bị ảnh hưởng bởi các tia cực tím, bức xạ, sự phơi nhiễm nhiễm UV – B cao. Ngược lại, nếu được trồng nhiều cây xanh tỷ lệ này giảm khoảng 50%.

Do đó, ở những nơi trẻ nhỏ hoạt động vui chơi ngoài trời như trường học, sân chơi giải trí thì nên trồng nhiều cây xanh.

Qua trên, chắc hẳn mỗi người đã biết được trồng cây xanh và trồng rừng ở vùng thành phố và ở khu công nghiệp nhằm mục đích gì? Hy vọng rằng, mỗi người sẽ tích cực tham gia tuyên truyền và trồng cây xanh để giúp môi trường sống của chúng ta luôn trong lành nhất. Không chỉ ở thành phố, khu công nghiệp mà ở bất cứ nơi đâu trên trái đất này đều cần cây xanh.

Nghị định thư Montreal: Sức mạnh bảo vệ tầng ozone hiệu quả

Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ozone ra đời nhằm bảo vệ môi trường, tầng ozone trước những mối đe dọa hiện nay. Cùng tìm hiểu rõ hơn nghị định thư Montreal là gì? Việc thực hiện nghị định này tại Việt Nam hiện nay như thế nào ngay sau đây.

Nghị định thư Montreal là gì?

Nghị định thư Montreal là điều ước quốc tế về các chất làm suy giảm tầng ôzôn bằng cách loại bỏ sự sản xuất những chất làm suy giảm ôzôn (ODS). Nhờ vậy mà hạn chế thiệt hại đến tầng ozone của trái đất.

Nếu không loại bỏ được sự sản xuất chất làm suy giảm ôzôn sẽ cho phép tăng bức xạ tia cực tím tiếp cận trái đất. Điều này dẫn đến tỷ lệ mắc bệnh ung thư da và đục thủy tinh thể mắt cao hơn; hệ thống miễn dịch bị tổn hại nhiều hơn và tác động tiêu cực đến rừng đầu nguồn, đất nông nghiệp và rừng.

nghị định thư montreal

Nghị định thư Montreal được thống nhất vào ngày 16/09/1987, có hiệu lực kể từ ngày 16/09/1989. Kể từ sau khi có hiệu lực, nghị định Montreal được sửa đổi 8 lần vào các năm 1990, 1991, 1992, 1993, 1995, 1997, 1998, 1999 và 2016. Riêng năm 2016 được thông qua nhưng không có hiệu lực, bởi kết quả của thỏa thuận quốc tế, lỗ thủng tầng ozone ở Nam Cực đang dần hồi phục.

Theo dự báo khí hậu cho thấy tầng ozone sẽ trở về mức 1980 trong khoảng thời gian từ 2050 đến 2070.

Nghị định thư Montreal được ký bởi 197 quốc gia. Đây là Hiệp ước đầu tiên trong lịch sử Liên Hợp Quốc đạt được phê chuẩn toàn cầu thành công nhất.

Quy định của Nghị định thư Montreal

Hiệp ước được cấu trúc xung quanh một số nhóm hydrocacbon halogen hóa làm suy giảm tầng ozone tầng bình lưu. Tất cả các chất làm suy giảm tầng ozone được kiểm soát bởi Nghị định thư Montreal đều chứa clo hoặc brom (các chất chỉ chứa flo không gây hại cho tầng ozone). Một số chất làm suy giảm tầng ozone (ODS) chưa được kiểm soát bởi Nghị định thư Montreal, bao gồm oxit nitơ (N2O) Đối với bảng các chất làm suy giảm tầng ozone được kiểm soát bởi Nghị định thư Montreal. Nghị định thư Montreal quy định những điều sau đây:

  • Bắt đầu từ ngày 1/1/2010, loại bỏ hoàn toàn chất làm suy giảm tầng ozone nhóm CFC (clorofluorocarbon).
  • Từ năm 2010 trở đi, tất cả những nước thành viên sẽ triển khai loại bỏ những chất HCFC (hydrochlorofluorocarbon). Hydrochlorofluorocarbons, thường được gọi là HCFC, là một nhóm các hợp chất nhân tạo có chứa hydro, clo, flo và carbon.
  • Đến năm 2030, những nước đang phát triển phải loại bỏ hoàn toàn những chất HCFC.

Thành tựu khi thực hiện Nghị định thư Montreal

Kể từ khi được thông qua vào năm 1987 và đến cuối năm 2014, nó đã loại bỏ thành công hơn 98% ODS được kiểm soát, giúp đảo ngược thiệt hại cho tầng ozone.

Trong giai đoạn 1989 – 2013, giảm CO2-eq tích lũy lượng khí thải 135 tỷ tấn.

Quá trình chuyển đổi từ CFC (tiềm năng làm suy giảm tầng ozone cao hoặc ODP) sang HCFC trung gian (với ODP thấp hơn) đã được hoàn thành. Quá trình chuyển đổi cuối cùng là các giải pháp thay thế không có ODP.

Thách thức vẫn còn tồn tại là phát triển hoặc lựa chọn các sản phẩm thay thế (chủ yếu trong sản phẩm điện lạnh, điều hòa không khí và bọt) thân thiện với môi trường.

UNDP là một cơ quan thực hiện của Quỹ đa phương để thực hiện Nghị định thư Montreal. Cơ quan này đã hỗ trợ các nước đang phát triển loại bỏ ODS. UNDP cũng là một cơ quan thực hiện cho Cơ sở Môi trường Toàn cầu (GEF) tài trợ cho các chương trình tương tự ở các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi. UNDP đã hỗ trợ 120 quốc gia đối tác tiếp cận nguồn vốn 733,5 triệu đô la, giúp loại bỏ 67.870 tấn ODS đồng thời giảm 5,08 tỷ tấn khí thải nhà kính CO2-eq.

Nghị định thư Montreal tại Việt Nam

Tháng 01/1994, Việt Nam tham gia vào phê chuẩn Nghị định thư Montreal. Trong suốt thời gian tham gia nghị định này, Việt Nam đã thực hiện nghiêm chỉnh, tích cực, có hiệu quả những quy định, cam kết của Nghị định thư Montreal.

Việt Nam đã hạn chế, kiểm soát tình trạng các chất tác động xấu đến tầng ozone bằng những biến pháp như:

  • Không sản xuất mà nhập khẩu các chất phục vụ nhu cầu sản xuất điện lạnh, bọt xốp…
  • Xây dựng, áp dụng những chính sách về môi trường, sản xuất nhằm bảo vệ tầng ozone.

nghị định thư montreal

Các dự án Việt Nam đã thực hiện thành công

  • Dự án “Kế hoạch quản lý loại trừ các chất HCFC của Việt Nam – giai đoạn I”.
  • Dự án “Kế hoạch quốc gia của Việt Nam loại trừ hoàn toàn tiêu thụ các chất CFC và Halon”.
  • Chương trình quốc gia của Việt Nam để loại bỏ dần những chất làm suy giảm tầng ozone.
  • Dự án “Trình diễn chuyển giao công nghệ giảm phát thải khí nhà kính và các chất làm suy giảm tầng ozone trong lĩnh vực làm lạnh công nghiệp”.
  • Dự án “Tăng cường năng lực thực hiện Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ozone ở Việt Nam”.

Những văn bản liên quan đến nghị định thư Montreal của chính phủ

Để các cơ quan ban hành, người dân thực hiện Nghị định thư Montreal nghiêm túc và hiệu quả, Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Công Thương đã ban hành các văn bản sau:

  • Ngày 11/07/2005, Thông tư liên tịch số 14/2005/TTLT/ BTM-BTNMT về việc quản lý xuất nhập khẩu, tạm nhập tái xuất những chất CFC, CTC và halon.
  • Ngày 30/12/2011, Thông tư liên tịch số 47/2011/TTLT/BCT-BTNMT. Thông tư này quy định việc quản lý xuất nhập khẩu và tạm nhập tái xuất các chất HCFC, Polyol trộn sẵn HCFC-141b (HCFC- 141b Pre-blended polyol). Mục đích là loại bỏ triệt để các chất làm suy giảm tầng ozone.
  • Ngày 03/05/2017, Văn bản số 2139/BTNMT- BĐKH được gửi đến các Bộ, cơ quan ngang bộ và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Văn bản quy định về việc triển khai những biện pháp giảm cầu polyol trộn sẵn HCFC-141b.

Bên cạnh những thông tư, văn bản được ban hành, Bộ Tài nguyên và Môi trường còn tổ chức những buổi tập huấn, hội thảo. Mục đích để tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân về những chất làm suy giảm tầng ozone.

Xây dựng những bài viết, tài liệu, video… về Nghị định thư Montreal trên những phương tiện truyền thông; cũng như những tác hại khi tầng ozone bị suy giảm và cách bảo vệ tầng ozone…

Kết quả đạt được khi thực hiện Nghị định thư Montreal

Mặc dù trong quá trình thực hiện nghị định gặp nhiều khó khăn, thách thức nhưng cũng đạt được những kết quả đáng kể. Cụ thể:

Người dân, tổ chức, doanh nghiệp đã nâng cao nhận thức về việc bảo vệ tầng ozone.

Loại bỏ được nhiều chất thải độc hại ảnh hưởng đến môi trường.

  • Tính đến 01/01/2010, 500 tấn CFC, Halon và CTC đã được loại bỏ, hoàn thành đúng tiến độ theo Nghị định thư Montreal. Việt Nam nhận được “Chứng nhận hoàn thành loại trừ tiêu thụ các chất CFC, Halon và CTC“.
  • Từ ngày 01/01/2015, 500 tấn Methyl Bromide không được sử dụng và 500 tấn HCFC- 141b cũng bị loại bỏ hoàn toàn. Gióp phần hoàn thành mục tiêu loại bỏ 10% lượng tiêu thụ những chất HCFC.

Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam 2014 có hiệu lực từ ngày 01/01/2015 có thêm quy định về việc bảo vệ tầng ozone.

Ban hành dự án “Kế hoạch quản lý loại trừ các chất  HCFC của Việt Nam-giai đoạn II”. Giai đoạn II từ 2017 – 2025.

Đốt rừng làm nương rẫy thực trạng và biện pháp khắc phục

Hiện nay, tình trạng đốt rừng làm nương rẫy vẫn diễn ra hàng ngày; trở thành vấn đề cấp bách cần giải quyết. Vậy cần phải làm gì để khắc phục được tình trạng này?

Thực trạng đốt rừng làm nương rẫy ở nước ta

Diện tích rừng phòng hộ đang ngày càng suy giảm; thay vào đó là diện thích sản xuất tăng. Nguyên nhân là do người dân đốt rừng là nương rẫy.

Báo cáo của Cục kiểm lâm cho biết hiện nay tình trạng đốt rừng làm nương rẫy ngày càng phức tạp hơn nên cơ quan chức năng khó phát hiện. Người dân thường khai phá vào đêm, chỉ vài mét vuông mỗi ngày. Sau một thời gian dài, diện tích lớn rừng bị đốt khai phá thành đất nông nghiệp. Khi bị phát hiện thì cây trồng đã được trồng, vài năm sau, người dân biến đất lâm nghiệp thành đất canh tác của nhà mình.

đốt rừng làm nương rẫy

Tình trạng đốt rừng làm nương rẫy ở Kon Tum

Dọc theo quốc lộ 24, rất nhiều mảng rừng phòng hộ bị đốt phá nham nhở. Màu xanh của rừng tự nhiên bị thay bằng màu xanh của sắn; thậm chí vẫn chỉ là những chồi sắn mới nhú.

Tại đèo Măng Đen, nơi giáp ranh Kon Rẫy và Kon Plông, nhiều mảng rừng bị đốt các cây gỗ to vẫn cháy âm ỉ. Mặc dù đã được dựng biển “Rừng phòng hộ đầu nguồn, cấm phát nương, làm rẫy” nhưng rừng vẫn bị đốt phá. Đặc biệt nguy hiểm là diện tích rừng bị khai phá lại nằm ngay đỉnh đèo. Nếu không có rừng che phủ thì rất dễ xảy ra sạt lở, mưa lũ, lũ quét.

Các cánh rừng phòng hộ dọc theo tuyến Đông Trường Sơn hướng về huyện K’Bang bị đốt phá liên tục cả ngày lẫn đêm. Theo thống kê, từ năm 2016 đến nay, có 12 vụ đốt rừng làm nương rẫy; làm suy giảm hơn 3 ha rừng ở khu vực rừng do Lâm trường Măng La quản lý.

Ngoài ra, những dự án thủy điện thu hồi đất sản xuất của người dân cũng dẫn đến tình trạng đốt rừng làm nương rẫy ngày càng tăng.

Tình trạng đốt rừng làm nương rẫy ở Núi Voi

Tình trạng đốt rừng làm nương rẫy ở Núi Voi vẫn đang diễn ra. Chính điều này làm cho diện tích rừng ngày càng thu hẹp; ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh thái; là tác nhân gây biến đổi khí hậu.

Theo báo cáo, hai bên sườn đồi dọc theo đường Hoa Đỗ Quyên nối liền Phường 3, TP Đà Lạt với huyện Đức Trọng, diện tích rừng phòng hộ đang bị suy giảm do người dân đốn hạ, đốt rừng. Khu vực này khá hoang vắng nên người dân thường đốt phá rừng vào ban đêm; cơ quan chức năng khó phát hiện. Như vậy, diện tích đất rừng bị thu hẹp, diện tích đất vườn được mở rộng.

đốt rừng làm nương rẫy

Biện pháp khắc phục tình trạng đốt rừng làm nương rẫy

Cần khắc phục được những hạn chế của pháp luật

Các luật về bảo vệ rừng vẫn còn nhiều thiếu sót. Cần phải tiếp tục rà soát, sửa đổi và bổ sung những quy định phù hợp. Có như vậy mới đáp ứng tốt hơn trong công tác đấu tranh phòng chống hành vi đốt rừng làm nương rẫy, phá hủy rừng phòng hộ đầu nguồn.

Cần chú ý phải cụ thể hóa các quy định trong luật bảo vệ rừng. Chẳng hạn như về nghĩa vụ, quyền lợi của cá nhân, tổ chức được giao đất trồng rừng. Cũng như các quyền lợi và nghĩa vụ của cơ nhà nước từ trung ương tới địa phương trong quản lý rừng. Bên cạnh đó, nhà nước cần ban hành các văn bản quy định cụ thể vai trò; địa vị pháp lý của lực lượng kiểm lâm trong việc thi hành pháp luật và bảo vệ rừng.

Những vấn đề này đặc biệt cần thiết trong giai đoạn hiện nay khi mà tình trạng đốt rừng làm nương rẫy ngày càng nghiêm trọng, phức tạp và tinh vi hơn.

Khắc phục yếu kém, hạn chế trong quản lý hành chính nhà nước

Phải thẳng thắn thừa nhận rằng, hoạt động quản lý hành chính nhà nước hiện nay còn tồn tại nhiều hạn chế, yếu kém. Đây cũng chính là một yếu tố tác động khiến tình trạng đốt rừng làm nương rẫy diễn ra phức tạp hơn. Do đó, cần phải khắc phục yếu kém trong quản lý nhà nước là hết sức cần thiết. Một số biện pháp khắc phục như:

  • Tăng cường sự quản lý của nhà nước về lâm nghiệp ở các địa phương có rừng. Tổ chức thực hiện nghiêm túc và quyết liệt những văn bản chỉ đạo của Chính phủ, ngành về việc phòng chống đốt phá rừng và bảo vệ rừng.
  • Ngăn chặn và xử lý nghiêm đối tượng có hành vi phá rừng và chống người thi hành công vụ.
  • Phối hợp liên ngành như người dân, chủ rừng, chính quyền địa phương, lực lượng kiểm lâm… trong việc quản lý và bảo vệ rừng. Bộ máy quản lý cần phải được vận hành liên tục và thường xuyên.
  • Phát hiện, ngăn chặn và giải quyết kịp thời những hành vi đốt phá hủy hoại rừng.
  • Cần phải tăng cường sự quản lý trong việc khai thác rừng. Cách tốt nhất về lâu dài là chỉ cho phép những chủ rừng được khai thác theo phương án quản lý và bảo vệ rừng được duyệt.

đốt rừng làm nương rẫy

Khắc phục hạn chế trong tuyên truyền, giáo dục phòng chống đốt phá rừng

Công tác tuyên truyền, giáo dục và phổ biến pháp luật bảo vệ rừng hiện nay vẫn còn hạn chế, chưa đúng mức. Người thực hiện công việc này có khi chưa có nhiều kinh nghiệm và cách tuyên truyền không phù hợp. Dẫn đến người dân không hiểu dẫn đến tình trạng đốt rừng làm nương rẫy vẫn diễn ra.

Đặc biệt ở những nơi vùng sâu vùng xa, người dân thường không thấy được sự cần thiết của việc bảo vệ rừng. Do đó, họ vẫn tiếp tục đốt rừng làm nương rẫy; thậm chí tiếp tay cho những kẻ buôn bán gỗ trái phép hoạt động.

Chính vì vậy, để khắc phục tình trạng đốt rừng làm nương rẫy hiệu quả thì cần phải đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục cho người dân về luật bảo vệ rừng.

Những trường hợp đốt phá rừng thì cần xét xử lưu động tại địa phương ở những nơi đông dân cư, tập trung nhiều đồng bào dân tộc thiểu số. Thông qua đó, người dân được tuyên truyền pháp luật và răn đe để có ý thức chấp hành luật về bảo vệ rừng tốt hơn.

Trên đây là thực trạng đốt rừng làm nương rẫy và các biện pháp khắc phục hiệu quả nhất. Rừng phòng hộ đóng vai trò quan trọng đối với môi trường sinh thái, biến đổi khí hậu; con người, sự phát triển kinh tế xã hội. Do đó, mỗi người cần phải có ý thức bảo vệ rừng ngay từ hôm nay; để bảo vệ cuộc sống xanh – sạch – đẹp của chúng ta.

Dấu chân carbon là gì? 6 cách giảm dấu chân các-bon cứu lấy trái đất

Dấu chân carbon là lượng phát thải CO2 mỗi người sinh ra có thể gây hại đối với môi trường. Dấu chân các-bon của mỗi người sẽ khác nhau. Để giảm thiểu sự ô nhiễm môi trường thì mỗi người cần phải có biện pháp làm giảm lượng CO2 phát thải ra.

Dấu chân carbon là gì?

Năm 1979, ý tưởng dấu chân các-bon được hình thành lần đầu tiên trong một cuộc họp của Ủy ban năng lượng Vườn quốc gia Yosemite.

Dấu chân carbon nói về lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính do một người tạo ra, có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp.

Phát thải trực tiếp khí nhà kính là sử dụng năng lượng như lái xe, sử dụng thiết bị điện. Gián tiếp là sử dụng bất kể một thứ gì đó mà dùng năng lượng để sản xuất ra chẳng hạn như quần áo, đồ ăn…

Dấu chân carbon

Mãi đến năm 2007, thuật ngữ dấu chân các-bon mới được đưa vào sử dụng trong báo cáo khoa học đầu tiên về biến đổi khí hậu của IPCC (Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu).

Những tác động của mỗi người đến môi trường như thế nào, hoạt động hàng ngày thải vào khí quyển lượng CO2 bao nhiêu… Các số lượng này sẽ được tính toán đo lường và hiển thị bằng dấu chân các-bon. Nếu số dấu chân carbon càng lớn thì tác động xấu đến môi trường càng lớn.

Cách tính số dấu chân carbon

Để tính được số dấu chân các-bon thì cần dựa vào nhiều yếu tố. Chẳng hạn như:

  • Địa điểm sinh sống
  • Năng lượng sử dụng là gì
  • Dũng những sản phẩm công nghệ nào, sử dụng như thế nào
  • Phong cách sống là gì
  • ….

Ở nước ta, chỉ số CF trung bình là gần 1,18 tấn/người/năm.

Cách được sử dụng để tính toán lượng khí thải các – bon tốt nhất là dựa trên mức độ tiêu thụ nhiên liệu của mỗi người. Sau đó, cộng dồn phát thải CO2 vào dấu chân các-bon của mình.

Bảng lượng phát thải CO2 của các nguyên liệu phổ biến nhất

Dấu chân các-bon

Chẳng hạn: Xe máy tiêu thụ 2,5 lít xăng cho 100km, khi quảng đường 200km thì sẽ tiêu thụ hết 2,5 x 2 = 5 lít xăng. Việc này sẽ làm tăng 5 x 2,3 kg = 11,5 kg CO2 vào dấu chân các-bon của bạn.

Biện pháp giảm dấu chân carbon

Có nhiều cách để giảm dấu chân các-bon, bao gồm:

Áp dụng thuế các-bon

Các nước trên thế giới đã bắt đầu áp dụng thuế các-bon để làm giảm lượng khí thải nhà kính.

Đan Mạch áp dụng thuế carbon bắt đầu từ năm 1992, Canadan áp dụng từ năm 2007, Columbia năm 2008, Australia năm 2012. Ở Ấn Độ, thuế các-bon được tính là 50 Rupi/1 tấn than.

Ở các nước phát triển khu vực châu Á – Thái Bình Dương quy định, mỗi một doanh nghiệp sẽ phải nộp 10 USD/1 tấn CO2 thải ra.

Đánh giá nguồn tài nguyên và xây dựng chiến lược tăng trưởng carbon dài hạn

Ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương không chỉ đối mặt với ô nhiễm môi trường mà còn phải đối mặt với cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên và biến đổi khí hậu. Do đó, chính phủ những nước cần phải đánh giá được chính xác nguồn tài nguyên thiên nhiên của nước mình. Đồng thời, cần phải xây dựng Chiến lược tăng trưởng các-bon dài hạn. Luật hóa những chính sách tài chính: Đánh thuế Các – bon để giúp định hướng nền kinh tế và duy trì lượng khí thải nhà kính thấp nhất.

Dấu chân carbon

Bên cạnh đó, mỗi cá nhân có thể làm giảm tác động của bản thân lên môi trường trái đất bằng những thay đổi nhỏ trong sinh hoạt hàng ngày.

Chế độ ăn bền vững hơn

Loại thực phẩm gây ra dấu chân carbon lớn nhất là sữa bò và thịt bò.

Các sản phẩm có chứa sữa bò như sữa chua, phô mai, bơ. Thay vì lạm dụng sử dụng chúng có thể thay thế bằng sữa chua từ sữa dừa, sữa hạnh nhân, socola thuần.

Đa số những lựa chọn thay thế này đều lành mạnh hơn những sản phẩm tương tự được chế biến từ sữa động vật.

Mặc đủ ấm khi lạnh không phải bật thêm lò sửa

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, 22% lượng khí thải nhà kính do hệ thống lò sưởi và 14% do đun nước nóng. Các con số này chắc chắn sẽ thay đổi khi môi trường sống lạnh hơn và cần phải sưởi ấm bằng cách bật lò sưởi ấm liên tục.

Để có thể giảm được lượng năng lượng tiêu thụ này bằng cách mặc đủ ấm khi trời lạnh thay vì việc lạm dụng bật lò sưởi thường xuyên.

Sử dụng quần áo giữ nhiệt, chăn đệm đủ ấm, tất đi dài dày là những cách đơn giản để giữ ấm mà không cần phải dùng lò sưởi.

Tắt các thiết bị điện tử khi không sử dụng

Theo nghiên cứu mới, có đến 800.000 tấn khí thải/năm được thải ra do thiết bị điện ở chế độ chờ của những gia đình ở Anh. Chính phủ Anh đang xem xét để đưa ra giải pháp làm giảm mức độ ô nhiễm bằng cách làm việc với những nhà sản xuất thiết bị điện tử.

Để giảm dấu các – bon do thiết bị điện gây ra, cách đơn giản là mỗi khi không sử dụng chúng ta hãy rút điện, tắt tất cả các thiết bị điện.

Tái chế mọi thứ có thể

Theo nghiên cứu, có một loại hóa chất mới được phát hiện ở đại dương biến rác thải nhựa thành những hạt nhỏ li ti. Điều này có nghĩa những hạt nhỏ này có thể lẫn vào nước, thực phẩm. Do đó, cần phải thực hiện tốt việc tái chế rác thải và phòng ngừa ô nhiễm.

Chẳng hạn, những lon kim loại được thải ra ở nước Anh được tái chế thì Anh đã giảm được 14 triệu thùng rác để đựng.

Tái chế giấy để giảm lượng rác thải ra môi trường gây ô nhiễm.

Có thể giúp giảm dấu chân các – bon, bảo vệ hành tinh xanh – sạch – đẹp hơn, chúng ta chỉ cần bỏ một ít thời gian hàng ngày để phân loại rác, Như vậy đã làm giảm được lượng rác thải đem ra bãi chứa.

Sử dụng bao bì tái chế được

Các loại bao bì bánh kẹo, túi bóng nhựa mỏng không thể tái chế và thường được đen ra bãi rác chôn lấp. Vì thế, muốn giảm được lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính thì nên sử dụng những sản phẩm đựng trong bao bì có thể tái chế được. Tuy nhiên, việc dùng bao bì có thể tái chế được gây tốn kém hơn.

Trồng cây

Mỗi một canh xanh tiêu thụ gần 24 kg khí CO2/năm. Do đó, mỗi người chỉ cần góp sức nhỏ bé trồng một cây xanh cũng đã gióp phần bảo vệ trái đất khỏi bị ô nhiễm môi trường, giảm dấu chân carbon hiệu quả.

Con mang rừng và một số loài mang phổ biến ở Việt Nam

Con mang rừng còn được gọi là hoẵng, mễn, kỉ hoặc mển, dạng hươu nai, chi Muntiacus. Cùng tìm hiểu rõ hơn về con mang rừng và những loại mang rừng ở Việt Nam hiện nay nhé!

Thông tin về con mang rừng

Mang rừng được coi là loại hươu cổ nhất, chúng xuất hiện trên trái đất vào khoảng 15 – 35 triệu năm trước. Dựa trên căn cứ di tích hóa thạch trầm tích tìm thấy ở Đức và Pháp.

Phân bố

Các loài con mang rừng ngày nay còn sống thường có nguồn gốc nguyên thủy ở Đông Nam Á, Ấn Độ. Mang bản điện ở Đài Loan, Hoa Nam và những hải đảo của Indonesia. Loài mang Reeves sau này được du nhập sang Anh, hiện đang phổ biến ở nhiều nơi tại Anh.

Con mang rừng

Đặc điểm

Con mang rừng là loài động vật nhiệt đới, không có chu kỳ động dục theo mùa. Do đó, khi di chuyển sang vùn ôn đới, mang rừng có thể giao phổi được ở bất cứ thời gian nào trong năm.

Con mang đực có các gạc ngắn. Những gạc này có thể mọc lại nhưng chúng thường có xu hướng dùng răng cắn xé để bảo vệ lãnh địa chứ không dùng gạc.

Giá trị

Mang rừng được chú ý trong nghiên cứu sự tiến hóa do những biến thể lớn trong bộ nhiễm sắc thể của loài này. Gần đây, chúng còn được nghiêm cứu để phát hiện các loài mới.

Một số loài mang rừng ở Việt Nam

Mang Trường Sơn

Có tên khoa học là Muntiacus truongsonensis. Mang Trường sơn là một trong số loài mang nhỏ nhất. Chúng chỉ nặng khoảng 15kg với kích cớ bằng 1/2 mang Ấn Độ. Được phát hiện đầu tiên ở dãy núi Trường Sơn, Việt Nam năm 1997.

Sống ở độ cao khoảng 400 – 1000m, ở những nơi mà kích thước nhỏ bé của nó dễ dàng di chuyển dưới những bụi cây rậm rạp.

Mang Trường Sơn

Hoẵng Nam Bộ

Có tên khoa học là Muntiacus muntjak annamensis, thuộc phân loài mang đỏ  (Muntiacus muntjak). Tên tiếng việt là mang, hoãng, kỉ, mễm, mển, con đõ, con cả lẹp, con quảy, con quảy chà.

Hoẵng Nam Bộ là loài đặc hữu của Đông Dương, ở nước ta phân bố ở các tỉnh Đông Nam Bộ và một số khu vực khác ở Lâm Đồng. Chẳng hạn như ở Sa Thầy (Kon Tum), Đồng Nai, Di Linh.

Đặc điểm

Thân thon mảnh, nặng trung bình từ 20 – 25kg. Bề ngoài của con mang rừng Nam Bộ giống hệt hươu nhưng nhỏ hơn.

Lông màu vàng sẫm, cũng có con lại có lông màu vàng nâu. Bụng hoẵng Nam Bộ trắng giống như những loài mang khác.

Đầu nhỏ, lanh lợi, chúng chạy nhảy nhanh, chỉ cần vài bước nhảy đã ở vị trí rất xa.

Tập tính

Thức ăn của chúng là lá, cây, quả và cỏ.

Con mang rừng này (Hoẵng Nam Bộ) là động vật có tập tính sống đơn độc, chúng chỉ ghép đôi khi vào thời kỳ động dục. Sinh sản hai lần trong năm vào tháng 1 – 3 và tháng 6 – 8. Mang thai từ 189 – 200 ngày, mỗi năm đẻ 1 lần và 1 con/lứa.

Hoẵng Nam Bộ sống ở các cánh rừng thưa, rừng quanh nương rẫy,cây bụi, đồi cây. Nơi ở của chúng không cố định và thường thoáng mát, quang đãng, khô ráo ở ven rừng.

Hoạt động vào ban đêm từ chập tối đến khi gần sáng. Vùng hoạt động của con mang rừng này nhỏ thường từ 1 – 2km.

Hoẵng Nam Bộ

Quan niệm

Nhiều nơi cho rằng bắt được hoẵng Nam Bộ sẽ may mắn vì đây là lộc đỏ của xóm làng, năm mới có nhiều tài lộc, làm ăn thuận lợi, giàu có.

Chữa chứng mất sữa cho phụ nữ khi sinh. Đây là bài thuốc dân gian nhiều người sử dụng. Phụ nữ sinh con không có sữa, dùng chân trước của chúng quệt vào bầu vú sẽ có sữa. Tuy nhiên, quan niệm này vẫn chưa có nghiên cứu khoa học nào chứng minh.

Hoặc treo chân trước của hoẵng Nam Bộ phơi khô trên vách tường, để trong tủ giữa nhà dùng để trang trí.

Tình trạng

Thịt hoẵng được coi là loài thịt ngon bậc nhất của thú rừng, dù không bằng thịt hươu sao, hươu bông. Thịt của chúng được dùng để nấu cháo ăn vừa ngon miệng lại vừa bổ dưỡng.

Thịt hoẵng Nam Bộ được coi là đặc sản núi rừng được bán nhiều ở các quán nhậu dù đã có những quy định về bảo vệ động thực vật hoang dã của nhà nước. Chính vì vậy, chúng thường xuyên bị săn bắt nên số lượng ngày càng suy giảm.

HIện nay, chúng được thuần dưỡng, chăn nuôi ở các vườn quốc gia, vườn thú, khu bảo tồn thiên nhiên hoặc khu du lịch sinh thái. Điều đáng nói là loài hoẵng Nam Bộ này sống chung với những loài mang rừng khác nên chưa có văn bản cụ thể nào cấm săn bắt và buôn bán. Điều này khiến cho số lượng của chúng ngày càng bị suy giảm.

Mang Pù Hoạt

Tên khoa học là Muntiacus puhoatensis. Mang Pù Hoạt là động vật có vú họ hươu nai, thuộc bộ Guốc chắn. Được miêu tả đầu tiên vào năm 1997, tìm thấy ở vùng Pù Hoạt, Quế Phong, Nghệ An.

Mang Vũ Quang

Mang Vũ Quang còn được gọi là mang lớn, có tên khoa học là Muntiacus vuquangensis, họ hươu nai, thuộc bộ Guốc chẵn.

Chúng là loài mang rừng lớn nhất được phát hiện đầu tiên vào năm 1994 ở vườn quốc gia Vũ Quang, Hà Tĩnh.

Con mang rừng này nằm trong Sách đỏ Việt Nam thuộc loài quốc hiếm, nguy cấp cần được bảo tồn.

Mang Vũ Quang

Đặc điểm

Mang Vũ Quang là dạng hươu nai, kích thước của chúng trung bình, có họ hàng gần với loài mang Ấn Độ. Trung bình mỗi con mang này nặng khoảng 34kg.

Có lông mượt màu nâu bóng, có nhiều sọc đen chạy xuống đế gạc phía trong rán từ những nhánh gạc nhỏ đến suốt tuyến ở trước trán. Tuyến trán mang Vũ Quang nhô ra, dài khoảng 2cm, bờ mi không có lông và gấp lên.

Dọc tuyến trán, mang Vũ Quang có ít lông mịn màu đen và phía sau có hàng lông dài quanh tuyến. Tuyến lệ của chúng có một dải lông mịn màu sẫm.

Màu lông phần bụng nhạt hơn so với phần lưng. Từ cổ xuống lưng chúng có một sọc màu sẫm. Lông đuôi có một túm màu sẫm, phần phía dưới là màu trắng.

Con mang rừng Vũ Quang đực có gạc lớn, dài từ 28 – 30cm, có nhánh. Nhánh chính dài từ 14 – 25cm, nhánh phụ từ 8 – 13cm và phần đế ngắm chỉ khoảng 3 – 7cm.

Trên đây là những thông tin về con mang rừng và một số loài mang phổ biến, đặc trưng ở Việt Nam. Bạn đọc có thể tham khảo để hiểu rõ hơn về loài mang rừng này. Đồng thời, có ý thức hơn trong việc tuyên truyền và bảo vệ chúng tránh nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng.

Thực trạng và giải pháp cấp bách bảo vệ động vật hoang dã hiện nay

Bảo vệ động vật hoang dã giúp bảo tồn những nguồn gen quý hiếm, cân bằng sinh thái, đảm bảo môi trường sống trong lành cho con người… Vậy thực trạng bảo vệ động vật hoang dã ở nước ta hiện nay như thế nào? Có những giải pháp nào được đưa ra để bảo vệ động vật hoang dã?

Tại sao cần bảo vệ động vật hoang dã?

Theo ước tính hiện nay có gần 1.556 loài có nguy cơ bị tuyệt chủng hoặc có thể gần tuyệt chủng cần được bảo vệ. Có đến gần 1/2 sinh vật trên trái đất cư trú và sinh trưởng ở những khu rừng nhiệt đợt. Tuy nhiên, hàng năm diện tích rừng nhiệt đới đang bị thu hẹp hàng trăm nghìn ha và nhiều loài đã bị tuyệt chủng. Do đó, việc bảo vệ động vật hoang dã là vấn đề cấp bách hiện nay.

Sự biến mất của một số loài động vật hoang dã không chỉ do môi trường sống bị phá hủy mà còn do con người trực tiếp gây ra. Hoạt động săn bẫy thú từng làm cho số lượng động vật hoang dã bị giảm nhanh chóng.

Bảo vệ động vật hoang dã đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc đảm bảo cân bằng sinh thái, môi trường sống trong lành, mang giá trị kinh tế, phục vụ sản xuất nông nghiệp và tạo điều kiện phát triển ngành y học.

bảo vệ động vật hoang dã

Thực trạng bảo vệ động vật hoang dã ở Việt Nam

Hiện nay, nước ta vẫn còn nhiều vi phạm về việc bảo vệ động vật hoang dã nhưng cũng có những thành tựu đáng ghi nhận. Cụ thể như sau:

Vẫn còn nhiều vi phạm 

Việt Nam bị coi là nước tiêu thụ động vật hoang dã; đồng thời còn là một mắt xích rất quan trọng trong mạng lưới trung chuyển và buôn bán động vật hoang dã trái phép xuyên quốc gia. – Theo Trung tâm Giáo dục thiên nhiên.

Theo số liệu năm 2017, có 1.352 trường hợp vi phạm về động vật hoang dã. Bao gồm 65,2% buôn bán và quảng cáo, 21,1% nuôi nhốt trái phép và 1,61% săn bắt động vật hoang dã.

829 trường hợp được ghi nhận qua đường dây nóng do người dân báo, so với năm 2016 tăng 29%. Trong số này, có đến 399 trường hợp được giải quyết, tỷ lệ thành công 48%, so với năm 2016 đã tăng 6%. Việc vi phạm bảo vệ động vật hoang dã diễn ra nhiều nhất ở các tỉnh TP HCM, Vũng Tàu, Hà Nội…

Cứu hộ và bảo tồn nhiều loại động vật quý hiếm

Năm 2017 cũng là năm số lượng động vật hoang dã quý hiếm, nguy cấp được cứu hộ, chuyển giao và bảo tồn được nhiều nhất kể từ năm 2006.

Chẳng hạn như, Chi cục Kiểm lâm Bắc Giang đã chuyển giao, cứu hộ được 28 cá thể động vật hoang dã quý hiếm; tịch thu 26 cá thể động vật rừng quý hiếm đang nguy cấp; phạt hành chính 3 vụ vi phạm về động vật hoang dã số tiền phạt 58 triệu đồng.

15 cá thể rắn cạp nong, rắn hổ mang và mèo rừng được thả về nơi cư trú. 2 cá thể trăn đất, khỉ đuôi lợn được tiếp nhận rồi chuyển giao cho Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã Hà Nội chăm sóc.

bảo vệ động vật hoang dã

Bắt giữ nhiều đối tượng vi phạm bảo vệ động vật hoang dã

Rất nhiều công dân Việt Nam đã bị bắt giữ cả ở trong nước và nước ngoài do buôn bán vận chuyện động vật hoang dã quý hiếm. Điển hình, tháng 04/2017, đối tượng Nguyễn Mậu Chiến bị bắt giữ tại Hà Nội cùng với số lượng động vật hoang dã lớn. Hay 02/01/2018, công an huyện Kim Bôi, Hòa Bình kiểm tra xe ô tô và bắt giữ một người đàn ông với 3 cá thể báo gấm đã chết.

Thay đổi tích cực về pháp lý 

Giai đoạn từ năm 2014 – 2016, có 156 vụ vi phạm hình sự về động vật hoang dã. Trong đó khoảng 17,9% áp dụng mức phạt tù giam, còn lại là cải tạo không giam giữ hoặc phạt tiền. Những hình phạt này được đánh giá vẫn chưa đủ sức răn đe đối với những đối tượng.

Năm 2017, Bộ Luật Hình sự được sửa đổi, bổ sung và có hiệu lực bắt đầu từ ngày 01/01/2018 sẽ là công cụ hiệu quả răn đe, trấn áp tội phạm về động vật hoang dã hơn. Cá nhân, tổ chức có những hành vi vi phạm về động vật hoang dã có thể bị phạt tù lên đến 15 năm; hoặc bị phạt 5 tỷ đồng nếu là cá nhân; 15 tỷ đồng, đình chỉ hoạt động 6 tháng – 3 năm hoặc vĩnh viễn nếu đối tượng là pháp nhân.

Giải pháp cấp bách bảo vệ động vật hoang dã

Mặc dù có những thay đổi tích cực về pháp lý, ý thức của địa phương, người dân nhưng Việt Nam vẫn còn phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm. Do đó, cần phải có những giải pháp cấp bách chấm dứt tình trạng buôn bán, tiêu thụ trái phép những loài động vật này ở nước ta.

Điều tra, xử lý nghiêm các đối tượng cầm đầu đường dây buôn bán ĐVHD trái phép

Nỗ lực điều tra, xử lý nghiêm với những đối tượng cầm đầu các đường dây buôn bán động vật hoang dã trái phép. Xóa bỏ nạn tham nhũng, tiếp tay cho các đối tượng vi phạm.

Có biện pháp răn đe hiệu quả

Trừng trị thích đáng đối tượng vi phạm vận chuyển, buôn bán động vật hoang dã nhằm răn đe hiệu quả những đối tượng khác.

Nghiêm cấm buôn bán sừng tê giác dưới mọi hình thức

Nghiêm cấm tuyệt đối việc buôn bán sừng tê giác dưới tất cả các hình thức; kể cả việc buôn bán mẫu vật săn bắn. Có như vậy hình ảnh Việt Nam dưới cái nhìn là nước tiêu thụ và trung chuyển trong cuộc khủng hoảng săn trộm tê giác hiện nay sẽ dần dần được xóa bỏ.

bảo vệ động vật hoang dã

Tiêu hủy kho sừng tê giác, ngà voi thu giữ được

Cần phải tiêu hủy toàn bộ các kho sừng tê giác và ngà voi thu giữ được. Chỉ giữ lại một lượng mẫu vật nhỏ để dùng trong nghiên cứu khoa học, phân tích ADN và phục vụ giáo dục – đào tạo.

Thắt chặt quản lý cơ sở nuôi hổ tư nhân và cho hổ sinh sản không kiểm soát

Từ năm 2007, số lượng cá thể hổ nuôi nhốt ở những cơ sở, vườn thú tư nhân tăng từ 55 lên hơn 189 do sinh sản không kiểm soát. Những cá thể hổ này không có giá trị trong bảo tồn ĐVHD quý hiếm, nguy cấp. Do đó, cần đóng cửa những cơ sở tư nhân nuôi hổ. Đồng thời, nghiêm cấm cho hổ sinh sản dưới mọi hình thức nếu như không có giá trị hoặc phục vụ mục tiêu nghiên cứu khoa học, giáo dục và bảo tồn.

Chấm dứt hoàn toàn việc nuôi nhốt gấu

Cần khuyến khích những chủ cơ sở tư nhân nuôi gấu tự nhiên chuyển giao cá thể gấy không đòi bồi thường. Ngược lại sẽ phải bị xử lý theo quy định của pháp luật hiện hành về việc vi phạm bảo vệ động vật hoang dã

Siết chặt hơn việc cấp giấy phép nuôi thương mại ĐVHD

  • Khi chưa thiết lập được hệ thống quản lý hiệu quả và cơ quan chức năng chưa có đủ khả năng giám sát, quản lý sát xao những cơ sở nuôi thương mại ĐVHD thì cơ quan có thẩm quyền không được cấp phép.
  • Thu hồi giấy phép đối với các cơ sở nuôi không có đầy đủ bằng chứng hợp pháp, thông tin minh bạch về nguồn gốc ĐVHD đang nuôi nhốt hoặc mua bán.
  • Xử lý nghiêm minh đối với các cán bộ địa phương tham nhũng, bao che, cấu kết cho hoạt động nuôi thương mại ĐVHD trái phép.

Nâng cao trách nhiệm của chính quyền địa phương

Trách nhiệm của các cấp chính quyền địa phương trong việc kiểm soát, quản lý và chấm dứt tình trạng buôn bán, tiêu thụ ĐVHD trái phép trên địa bàn cần phải được nâng cao.

Tăng cường đấu tranh với tội phạm trên Internet về buôn bán ĐVHD 

  • Cần phải đóng cửa những trang thông tin điện tử nếu chứa các thông tin rao bán, quảng cáo, hoặc mua bán ĐVHD cần được bảo tồn.
  • Tăng cường theo dõi và chặn những trang cá nhân trên mạng xã hội được các đối tượng dùng để rao bán ĐVHD.

Phát triển vùng đệm có vai trò gì? Biện pháp phát triển hiệu quả

Phát triển vùng đệm là vấn đề hết sức quan trọng; bởi hệ thống động thực vật tự nhiên trong các khu bảo tồn đang bị suy thoái. Đồng thời, ở phía ngoài những khu bảo tồn lại phải chịu sức ép của người dân. Vậy vùng đệm là gì? Phát triển vùng đệm có vai trò như thế nào? Cùng tìm hiểu ngay sau đây nhé.

Vùng đệm là gì?

Vùng đệm được hiểu là vùng đất, vùng rừng, vùng mặt nước nằm giáp ranh giới của khu dùng đặc dụng; đóng vai trò ngăn chặn và giảm thiểu sự tác động tiêu cực đến khu rừng đặc dụng.

Phạm vi của vùng đệm

Phạm vi của vùng đệm bao gồm: Vùng rừng, đất ngập nước, đất có dân cư sinh sống, vùng biển tiếp giáp ranh giới ngoài. Hoặc có thể nằm ở trong phạm vi ranh giới rừng đặc dụng; đóng vai trò phòng ngừa, giảm thiểu sự xâm hại đối với khu rừng đặc dụng.

  • Phạm vi của vùng đệm sẽ được xác định cùng một lúc với việc thành lập dự án khu rừng đặc dụng; do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thông quy định.
  • Được xác định rõ ràng trên bản đồ và thực địa.
  • Vùng đệm sẽ được quy hoạch sử dụng đất đai, tài nguyên thiên nhiên sao cho phù hợp với mục tiêu và nâng cao đời sống dân sinh, phát triển kinh tế xã hội bền vững.

Phát triển vùng đệm

Đặc điểm vùng đệm

  • Vùng đệm là vùng nằm ở giáp ranh của rừng đặc dụng số lượng loài ở vùng này ít hơn.
  • Độ đa dạng sinh học cao hơn bởi có khả năng biến dị nội bộ giữa các loài tăng.
  • Có một số loài không hề có ở giữa hai hệ sinh thái chính.
  • Có hệ thực vật chuyển tiếp giữa 2 quần xã khác nhau, nên hệ động vật cũng khác nhau.
  • Vùng đệm có thể bị biến đổi do chính những sinh vật sống trong hệ.

Phát triển vùng đệm có vai trò gì?

Phát triển vùng đệm đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, phát triển xã hội và ổn định an ninh quốc phòng. Cụ thể như sau:

Phát triển kinh tế

Mục tiêu đặt ra, trong thời kỳ từ năm 2015 – 2020, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất của vùng đệm tăng 8%. Trong đó, giá trị sản xuất lâm – nông – ngư nghiệp tăng trung bình 5%; giá trị sản xuất công nghiệp – xây dựng tăng trung bình 12%; giá trị dịch vụ tăng 13,5%.

Giai đoạn từ 2021 – 2030 tăng tưởng 10,1%. Bao gồm: giá trị sản xuất lâm – nông – ngư nghiệp tăng trung bình 5,5%; giá trị sản xuất công nghiệp – xây dựng tăng trung bình 12,5%; giá trị dịch vụ tăng 14%.

Phát triển vùng đệm chuyển dịch cơ cấu từ lân nghiệp sang phi nông nghiệp. Mục tiêu năm 2020, tỷ trọng ngành nông – lâm – ngư nghiệp giảm còn 45%, công nghiệp – xây dựng tăng 18% và dịch vụ tăng 36%. Đến năm 2030 thì tương ứng là 32%, 45% và 22,5%.

Thu nhập bình quân đầu người đến năm 2020 tăng lên 25 triệu đồng, năm 2030 tăng lên 110 triệu đồng.

Phát triển vùng đệm

Phát triển văn hóa – xã hội

  • Đến năm 2020, tỷ lệ dân số phát triển tự nhiên đạt 1,1%, năm 2030 còn khoảng 1%.
  • Giai đoạn 2015 – 2020 giải quyết việc làm cho 4000 người và giai đoạn 2021 – 2030 khoảng 4200 người.
  • 100% các xã trong cả nước hoàn thành được phổ cập trung học đúng với độ tuổi vào năm 2020. Khoảng 90% trường trung học đạt được chuẩn quốc gia cấp độ 1 và 50% trường đạt chuẩn cấp độ 2. Trường trung học cơ sở đạt chuẩn quốc gia khoảng 70% và 100% xã phổ cập trung học cơ sở. Đến năm 2030, tỷ lệ trường trung học đạt chẩn quốc gia cấp độ 1 là 100% và cấp độ 2 khoảng 70%.
  • Giai đoạn 2015 – 2020 giảm tỷ lệ hộ nghèo 2,1%, đến giai đoạn 2021 – 2030 còn 2%. Cụ thể đến năm 2020 tỷ lệ hộ nghèo còn 25% và năm 2030 còn khoảng 13 – 15%.

Môi trường

Mục tiêu phát triển vùng đệm trong lĩnh vực môi trường bao gồm:

  • Đến năm 2010: Số hộ dân có công trình vệ sinh tự hoạt đạt khoảng 80%; và 70% tỷ lệ xử lý, thu gom rác thải ở những khu vực đô thị. Đến năm 2030 tỷ lệ này tương ứng là 90% và 100%.
  • Tất cả nhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp, cụm công nghiệp đều có hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn.
  • Độ che phủ rừng đến năm 2020 là 92% và 2030 đạt 93,5%.

Xây dựng cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ quản lý

  • Mục tiêu đến năm 2020 tỷ lệ số hộ đạt chuẩn văn hóa khoảng 50%, thôn và làng văn hóa đạt 35%. Đến năm 2030 tỷ lệ này tương ứng là 70% và 45%.
  • Xây dựng đội ngũ nhân lực có năng lực, trình độ đáp ứng tốt nhất nhu cầu phát triển vùng đệm theo những mục tiêu, định hướng đã đề ra. Cụ thể, đến năm 2020, 50% số nhân lực đã qua đào tạo, trong đó đào tạo nghề khoảng 40%. Đến năm 2030, con số này nâng lên là 65% và 55%.
  • Tỷ lệ dân cư ở vùng đệm được sử dụng nước sinh hoạt đảm bảo vệ sinh chiếm khoảng 80%, năm 2030 nâng lên 90%.
  • Có 80% xã đạt chuẩn y tế cấp quốc gia vào năm 2020 và 95% vào năm 2030.
  • Cố gắng phấn đấu giảm tuer lệ trẻ em bị suy dinh dưỡng còn 15% vào năm 2020 và 10% vào năm 2030.
  • Bên cạnh đó cần phải đảm bảo an toàn trật tự, an ninh quốc gia, bảo vệ chủ quyền biên giới bền vững.

Phát triển vùng đệm

Biện pháp phát triển vùng đệm

Để phát triển vùng đệm thì cần phải thực hiện các biện pháp sau đây:

  • Khuyến khích, tổ chức những biện pháp nhằm thu hút dân sinh ở vùng đệm thực hiện ngăn chặn, tố cáo hành vi xâm hại vào khu rừng đặc dụng. Cũng như tham gia quản lý rừng đặc dụng, thực hiện dự án đầu tư vùng đệm.
  • Cần nâng cao đời sống cho người dân sống trong vùng đệm để giảm thiểu việc sử dụng tài nguyên rừng bừa bãi trong khi rừng đặc dụng.
  • Cần có sự phối hợp của địa phương vùng đệm với ban quản lý rừng đặc dụng tổ chức triển khai thực hiện các dự án đầu tư vùng đệm.
  • Khuyến khích người dân, chính quyền địa phương vùng đệm tham gia quản lý, quy hoạch các hoạt động bảo tồn rừng đặc dụng.
  • Quản lý việc sử dụng tài nguyên rừng đúng với quy định của nhà nước và quy hoạch bảo vệ, phát triển rừng.
  • Lập các kế hoạch quản lý và phát triển tài nguyên thiên nhiên ở vùng đệm, rừng đặc dụng một cách bền vững.
  • Khuyến khích những dự án đầu tư phát triển vùng đệm. Đồng thời phải điều phối đươc hoạt động đầu tư này để đảm bảo mục tiêu bảo tồn.

Tóm lại, vùng đệm là vùng giáp ranh giữa hai hệ sinh thái; việc phát triển vùng đệm sẽ giúp giải quyết được nhiều khó khăn của kinh tế xã hội, môi trường sinh thái, an ninh xã hội. Đồng thời, phát triển vùng đệm cũng sẽ giúp nâng cao đời sống của người dân địa phương. Nhờ vậy mà sức ép của dân sinh lên các khu bảo tồn cũng giảm hẳn.

Redd+ là gì? Biện pháp đảm bảo an toàn trong redd+

REDD viết tắt của cụm từ “Reducing Emission from Deforestation and Forest Degradation”. Được tạm dịch là “Giảm phát thải khí nhà kính từ mất rừng và suy thoái rừng”. Vậy REDD+ là gì? Biện pháp đảm bảo an toàn trong redd + như thế nào? Cùng tìm hiểu ngay sau đây nhé!

REDD+ là gì?

Chuyên gia Nguyễn Quang Tân của Trung tâm Vì con người và rừng Việt Nam cho biết:

REDD+ được hiểu là một sáng kiến quốc tế, cung cấp và hỗ trợ tài chính cho những nước đang phát triển để giảm tình trạng khí thải gây hiệu ứng nhà kính gây biến đổi khí hậu. Việc cung cấp hỗ trợ này thông qua năm hoạt động chính sau:

  • Hạn chế mất rừng
  • Hạn chế suy thoái rừng
  • Bảo tồn trữ lượng cacbon rừng
  • Quản lý bền vững tài nguyên rừng
  • Tăng cường trữ lượng cacbon rừng

Redd+ là gì

Ý tưởng của REDD+

Hầu hết tỷ lệ diện tích rừng suy giảm và thoái hóa đều xảy ra ở những nước đang phát triển. Để nhận đươc sự hỗ trợ về tài chính của REDD + thì các nước này cần phải làm giảm tỷ lệ mất rừng và suy thoái.

Mục tiêu của redd+ không những làm giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính, biến đổi khí hậu mà còn gióp phần xóa đói giảm nghèo, bảo tồn sự đa dạng sinh học, thúc đẩy sự phát triển lâm nghiệp…

Cây xanh trong rừng trong quá trình quang hợp sẽ hút khí CO2 và nhả ra O2. Quá trình này đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc giảm nguyên nhân gây biến đổi khí hậu. Đồng thời rừng còn giúp xã hội có thể thích ứng với những tác động không mong muốn của biến đổi khí hậu.

Chẳng hạn như, ngăn chặn chặt phá rừng có thể làm giảm khoảng 20% lượng CO2 toàn cầu. Khi đó, sự ra đời của REDD+ là quá trình tất yếu và khách quan.

Vai trò của REDD+

Bên cạnh REDD+ là gì thì vai trò của nó cũng là vấn đề mà nhiều người quan tâm.

Biến đổi khí hậu ảnh hưởng nghiêm trọng đến tài nguyên thiên nhiên rừng. Ví dụ, nhiệt độ tăng cao, lượng mưa giảm có thể gây hạn hạn, cháy rừng. Khi rừng bị thiêu cháy sẽ không thể duy trì được hệ sinh thái tự nhiên, nguồn sinh kế và không thể giúp con người thích ứng được với tình trạng biến đổi khí hậu.

Trong khi đó, rừng sẽ giúp làm giảm các hiện tượng lũ lụt, xói lở đất, mưa bão, là nơi cư trú của nhiều loài động thực vật… Ngược lại, rừng cũng có thể làm tăng sự biến đổi khí hậu nếu như quản lý không được chặt chẽ. Gỗ cây bị khai thác thì cây lại trở thành nguồn khí gây hiệu ứng nhà kính. Bởi lẽ, toàn bộ carbon mà cây tàng trữ sẽ thải ra dưới dạng khí CO2. Khi đó, cây không thể hút CO2 ngoài không khí được nữa.

Hỗ trợ tài chính giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính

REDD+ ra đời nhằm cung cấp hỗ trợ các nước đang phát triển về tài chính để giảm phát thải gây hiệu ứng nhà kính do mất rừng và suy thoái rừng.

Các quốc gia sẽ đo đếm, giám sát lượng phát khí thải CO2 do diện tích rừng bị suy giảm trong nước mình. Sau một thời gian sẽ tính toán lượng giảm phát thải và số lượng tín chỉ carbon rừng có thể trao đổi trên thị trường dựa vào sự giảm thiểu này.

Khi đó, REDD+ cung cấp tài chính để tránh bị mất rừng, suy thoái rừng. Từ đó, tạo ra được sự kích thích trong quản lý rừng được bền vững. Đồng thời sẽ tạo sự bình đẳng đối với những người dân nghèo sinh sống trong, gần rừng.

Redd+ là gì

Thu hút phân phối lợi ích công bằng cho các chủ thể

REDD+ thu hút phân phối lợi ích công bằng cho các chủ thể. Cụ thể gồm:

  • Người quản lý rừng
  • Cán bộ lân nghiệp
  • Những tổ chức phi chính phủ địa phương
  • Chính quyền địa phương
  • Những nhóm xã hội dân sự có liên quan đến quản lý rừng
  • Những hộ dân sống phụ thuộc hoàn toàn vào rừng

Các chủ thể này có quyền được nhận những lợi ích từ REDD+ do họ đóng góp vào việc thực hiện REDD+.

Đánh giá mức độ sẵn sàng thực hiện REDD+ 

FCPF là quỹ đối tác các – bon trong lâm nghiệp, là đối tác toàn cầu, hỗ trợ các nước đang phát triển chuẩn bị và thực hiện REDD+. Để được tham gia vào quỹ này, thì các nước đang phát triển cần đánh giá mức độ sẵn sàng thực hiện REDD+.

Kế hoạch hành động REDD+ cấp tỉnh

Được thiết kế phục vụ cho công tác chuẩn bị và thực hiện REDD+ cấp tỉnh. Kế hoạch này bao gồm hoạt động lập kế hoạch đa ngành và đưa ra những biện pháp nhằm:

  • Cải thiện sở hữu đất rừng và quyền sử dụng đất.
  • Tăng cường sự quản lý rừng cấp tỉnh gồm quản trị pháp lý, tăng cường thực hiện pháp luật trong sử dụng rừng và thương mại gỗ.
  • Thúc đẩy các hoạt động đầu tư vào rừng để hỗ trợ và đáp ứng yêu cầu của REDD+.
  • Tạo điều kiện để cộng đồng địa phương, doanh nghiệp lâm nghiệp tham gia vào quá trình phát triển cảnh quan REDD+ trên cơ sở sử dụng rừng hợp lý và bảo vệ rừng bền vững.

Đánh giá môi trường và xã hội chiến lược

Việc đánh giá này nhằm đảm bảo mối quan tâm về môi trường, xã hội lồng ghép vào việc xây dựng chiến lược REDD+ quốc gia. Đánh giá môi trường và xã hội chiến lược thông qua xác định cơ hội và rủi ro kinh tế xã hội, môi trường trong quá trình chuẩn bị và thực hiện những hoạt động REDD+.

Biện pháp đảm bảo an toàn trong REDD+

Biện pháp đảm bảo an toàn trong REDD+ là Safeguards. Safeguards bao gồm tất cả các chính sách, quy định, thủ tục nhằm giảm tối đa những rủi ro môi trường và xã hội trong quá trình chuẩn bị và tiến hành REDD+.

Thỏa thuận Cancun đã đưa ra các nguyên tác đảm bảo an toàn trong REDD+ gồm:

  • Những hành động REDD+ phải phù hợp với các chương trình Lâm nghiệp quốc gia, thỏa thuận và hiệp định Quốc tế.
  • Tôn trọng tri thức và quyền lợi của người dân bản địa, cũng như cộng đồng địa phương.
  • Cấu trúc quản lý rừng quốc gia cần minh bạch và hiệu quả.
  • Những hành động bảo tồn rừng tự nhiên và đa dạng sinh học.
  • Các bên liên quan tham gia đầy đủ, nhất là người dân địa phương và cộng đồng địa phương.
  • Các hành động giảm sự dịch chuyển phát thải.
  • Những hành động giải quyết, khắc phục rủi ro của các tác động ngược chiều.

Trên đây là những giải đáp REDD+ là gì? Các biện pháp đảm bảo an toàn trong REDD+. Bạn đọc có thể tham khảo để hiểu hơn về chương trình này nhé!

Tổng quan về tài nguyên rừng và nguyên nhân rừng bị suy thoái trầm trọng

Tài nguyên rừng là yếu tố quan trọng nhất của bầu sinh quyển. Nó đóng vai trò to lớn trong hệ sinh thái, môi trường, sự sống của con người và sự phát triển của nền kinh tế xã hội. Hiện nay tài nguyên rừng đang bị suy thoái nghiêm trọng. Vậy nguyên nhân gây ra tình trạng này là gì?

Tổng quan về tài nguyên rừng

Tài nguyên rừng là một phần quan trọng của tài nguyên thiên nhiên. Đây là loại tài nguyên có khả năng tái tạo được. Tuy nhiên, nếu việc khai thác, sử dụng không đúng, bừa bãi thì có thể dẫn đến suy thoái và không thể tái tạo được.

Vai trò của tài nguyên rừng

  • Có vai tròng vô cùng quan trọng đối với bầu sinh quyển, khí hậu, đất đai, mùa màng.
  • Điều hòa nhiệt độ, ngăn chặn hiện tượng hiệu ứng nhà kính, điều hòa không khí, nguồn nước, bảo vệ môi trường.
  • Cung cấp các nguồn gen động thực vật quý hiếm, các lâm đặc sản rừng.
  • Ngăn ngừa, hạn chế các hiện tượng thiên tai như mưa bão, lũ quét, sạt lở đất, lũ lụt, biển xâm chiếm…
  • Là nơi cư trú, sinh sống và phát triển của nhiều loài động thực vật, đa dạng hệ sinh thái.
  • Con người có thể sử dụng tài nguyên thiên nhiên rừng để khai thác, chế biến, sử dụng các sản phẩm phục vụ đời sống.

tài nguyên rừng

Phân loại tài nguyên rừng

Ở các nới có khí hậu khác nhau thì tài nguyên thiên nhiên rừng cũng sẽ khác nhau. Có nhiều tiêu chí để phân loại tài nguyên rừng nhưng chủ yếu dựa vào:

Kiểu thảm thực vật

Sự hình thành những thảm thực vật tự nhiên với địa lý, điều kiện khí hậu có liên quan chặt chẽ được việc hình thành các kiểu rừng. Những kiểu thảm thực vật rừng trên thế giới gồm:

Rừng mưa nhiệt đới 

Đây là loại rừng có độ đa dạng sinh học cao nhất. Chế độ mưa, nhiệt độ, gió mùa của rừng mưa nhiệt đới vô cùng phức tạp nên thành phần loài, cấu trúc rừng của loại rừng này cũng rất phức tạp.

Rừng mưa nhiệt đới phân bố chủ yếu ở vùng xích đạo lưu vực sông Congo (Châu Phi), sông Amazone (Nam Mỹ), Malaysia, Ấn Độ.

Rừng  lá  kim  (rừng  Taiga)  vùng  ôn  đới

Phân bố ở vùng núi cao nhiệt đới như ở Châu Âu, Bắc Mỹ, Bắc Trung Quốc. Loại rừng này có thành phần khá đồng nhất nhưng năng suất lại thấp hơn nhiều so với vùng nhiệt đới.

Rừng rụng lá ôn đới

Được phân bố ở vùng nhiệt đới và vùng thấp hơn. Rừng rụng lá ôn đới phân bố chủ yếu ở Châu Âu, Nam Mỹ, Đông Bắc Mỹ, Australia, Nhật Bản và một phần ở Trung Quốc.

Tính chất mục đích sử dụng

Tài nguyên rừng dựa vào tính chất, mục đích sử dụng được chia thành những loại sau:

Rừng đặc dụng

Đây là loại rừng có mục đích bảo tồn sinh thái, bảo tồn thiên nhiên, các nguồn gen động thực vật quý hiến, bảo vệ di tích văn hóa, lịch sử, phục vụ nghiên cứu khoa học. Hoặc dùng để nghỉ ngơi, du lịch sinh thái.

Rừng đặc dụng gồm: Các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia, các khu lịch sử, văn hóa và môi trường.

tài nguyên rừng

Rừng phòng hộ 

Rừng phòng hộ được sử dụng nhằm bảo vệ môi trường, nguồn nước, đất, hạn chế biến đổi khí hậu, chống hạn hán thiên tai, xói mòn, bão lũ. Thường được chia thành 3 loại là rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng phòng hộ chắn sóng ven biển và rừng phòng hộ chống cát bay.

Rừng sản xuất 

Là những loại rừng dùng với mục đích để sản xuất kinh doanh gỗ, động thực vật rừng, đặc sản rừng đồng thời bảo vệ môi trường.

Nguyên nhân diện tích rừng và suy thoái rừng

Theo thống kê từ năm 1960 – 1990, độ che phủ rừng trên toàn thế giới bị giảm gần 13%, từ 37 triệu km2 xuống còn 32 triệu km2, tốc độ giảm trung bình hàng năm là 160.000 km2. Sự suy giảm này xảy ra lớn nhất ở rừng nhiệt đới, điển hình là rừng Amazone ở Brazil.

Những loại rừng bị tàn phá nhiều là:

  • Rừng khô nhiệt đới khoảng 70%
  • Rừng ôn đới lá rộng và rừng hỗn hợp khoảng 60%
  • Rừng ẩm nhiệt đới khảng 45%
  • Rừng lá kim khoảng 30%

Tài nguyên rừng nguyên sinh ở châu Á mất nhiều nhất, chiếm khoảng 70%. Nguyên nhân diện tích rừng bị suy giảm, rừng thoái hóa do nhiều yếu tố, chủ yếu do:

Mở rộng diện tích đất nông nghiệp

Chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sang canh tác nông nghiệp là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất khiến diện tích rừng bị suy giảm. Hiện nay, việc mở rộng diện tích đất nông nghiệp sản xuất lương thực ở châu Mỹ La Tinh diễn ra chậm hơn với châu Phi và châu Á.

Khai thác gỗ và những sản phẩm rừng

Tốc độ suy giảm rừng ở nhiều quốc gia hiện nay là do đẩy mạnh khai thác tài nguyên rừng phục vụ cho phát triển nền kinh tế và xuất khẩu.

Việc khai thác, buôn bán gỗ diễn ra mạnh mẽ ở các nước Đông Nam Á. Theo số liệu thống kê, ở khu vực này chiếm đến gần 50% trên thế giới, điển hình là ở Malaysia và Philippine.

Chặt phá rừng lấy củi

Nhu cầu dùng củi để đun nấu vẫn còn cao, nhất là ở châu Phi. Do đó, chặt phá rừng để lấy củi đốt cũng là một trong những nguyên nhân là cho tài nguyên rừng bị cạn kiệt.

Chăn thả gia súc

Các loại gia súc như trầu bò, cừu dê chăn thả đòi hỏi phải mở rộng các đồng cỏ. Đây cũng chính là nguyên nhân khiến cho diện tích rừng ngày càng bị suy giảm. Theo thống kê ở châu Mỹ La Tinh, tài nguyên rừng bị suy thoái do sản xuất nông nghiệp nhỏ chỉ chiếm 35%, còn lại là do chăn thả gia súc.

Cháy rừng

Là nguyên nhân tài nguyên rừng suy thoái khá phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới. Chẳng hạn như ở Mỹ, năm 2000 có đến 2,16 triệu ha rừng bị cháy. Ở Indonesia đợt cháy rừng xảy ra vào năm 1977 có đến gần 1 triệu ha rừng bị thiêu hủy…

tài nguyên rừng

Phá rừng trồng cây công nghiệp và cây đặc sản

Để phục vụ cho kinh doanh, nhiều diện tích rừng bị phá hủy để trồng cây công nghiệp, cây đặc sản. Các doanh nghiệp chỉ quan tâm đến mục đích thu được lợi nhuận khổng lồ mà không quan tâm đến môi trường.

  • Ở Pêru, người dân chặt phá rừng lấy đất để trồng côca sản xuất socola. Theo ước tính, diện tích của loại cây này chiếm đến 1/10 diện tích rừng của Pêru.
  • Ở Thái Lan, diện tích rừng chặt phá để trồng sắn phục vụ cho xuất khẩu, hoặc côca.
  • Nhiều nước khác trên thế giới phá rừng nguyên sinh để trồng cây công nghiệp như cao su, cọ dầu.

Bên cạnh đó, có nhiều nguyên nhân khác làm suy giảm tài nguyên rừng. Chẳng hạn như:

  • Các dự án phát triển kinh tế xã hôi, xây dựng cơ sở hạ tầng, thủy điện.
  • Chính sách đất đai, quản lý rừng.
  • Chính sách về di cư, định cư.

Thông 5 lá: Loài cây đặc hữu ở Việt Nam

Thông 5 lá có ba loài là thông Đà Lạt, thông Pà Cò và Pinus armandii mới được tìm thấy ở Sơn La. Đây là một trong những loại cây quý hiếm, đặc hữu của Việt Nam. Cùng tìm hiểu rõ hơn về loài thông 5 lá này và một vài thông tin về các loài thông khác ngay sau đây nhé!

Cây thông 5 lá

Thông 5 lá là loài cây quý hiếm chỉ có ở Việt Nam, gồm ba loài là thông Pà Cò, thông Đà Lạt và Pinus armandii ở Sơn La.

Thông 5 lá Pinus armandii ở Sơn La

Đặc điểm hình thái

  • Thông 5 lá mọc thẳng, có chiều cao từ 15 – 25m, đường kính thân khoảng 0,8m.
  • Cụm 5 lá kim rất dài, chiều dài khoảng 12 – 24cm, lá buông rủ xuống.
  • Nón quả thông Thông 5 lá Pinus armandii ở Sơn La lớn, có chiều dài từ 7 – 10cm, đường kính nón quả từ 5 – 7 cm.
  • Hạt thông lớn có kích thước trung bình khoảng 0,5 x 1cm. Hạt của loài thông 5 lá này không có cánh hạt.

Thông 5 lá

Đặc điểm sinh thái và phân bố

Thông 5 lá dài mọc ở Xuân Nha, Sơn La gần như thuần loài. Số lượng thông 5 lá Pinus armandii ước tính chỉ vào khoảng 40 cây trưởng thành. Tập trung ở một khu vực rộng khoảng 2 km2, phân bố đều nhau.

Cây sinh trưởng ở vùng đất sét phát triển từ đá mẹ sa phiến thạch, ở vùng núi cao 900 – 1200m.

Cây tái sinh rất hiếm. Hiện nay, mới thấy được 3 cây thông 5 lá con khoảng 2 năm tuổi.

Dưới tầng tán thông thường là cây gỗ nhỏ và cây bụi cao từ 2 – 3m thuộc họ chè, họ re và lau. Chúng mọc thành đám dày đặc.

Giá trị và tình trạng

Loài cây thông trắng 5 lá đặc hữu chỉ phân bố ở Xuân Nha, khu vực biên giới giáp rang giữa Sơn La và tỉnh tỉnh Hua Phan của Lào. Số lượng cá thể khoảng 40 cây trưởng thành, khả năng phân bố, phát tán, tái sinh kém. Vì thế loài thông 5 lá này được đánh giá ở mức độ rất nguy cấp: CR. Đây là nguồn gen quý hiếm, độc đáo cần được bảo vệ và bảo tồn kịp thời.

Thông 5 lá Đà Lạt

Tên khoa học: Pinus dalatensis.

Đặc điểm hình thái

Cây thân gỗ to, tán cây hình nón, xanh tốt. Thông 5 lá cao khoảng hơn 30m, thân có đường kính từ 0,6 – 0,8m. Cây non có vỏ thân nứt dọc, ở cây già thì vỏ lại bong thành từng mảng.

Cành thông 5 lá ngắn, mọc ở trên đầu cành thành cụm. Cành ngắn có 5 lá hình kim ở đỉnh, dài từ 6 – 11cm, rộng từ 0,6 – 0,7cm. Mặt cắt có hình tam giác đều, cạnh lá có răng cưa nhỏ. Có chứa lỗ khí ở hai bên mặt, thường từ 2 – 5 hàng lỗ khí/mặt.

Nón thông đơn tính cùng gốc, có hình trụ, dài từ 5,5 – 10cm, đường kính khoảng 2,5 – 4cm. Mỗi nón dài 2,5cm, rộng từ 1,5 – 2,5cm, có 25 – 50 vảy, mái vảy ở tận cùng của nón. Khi chín thì vảy có màu xám đen.

Hạt thông Đà Lạt có màu nâu, hính trứng, chiều dài từ 0,8 – 1cm, đường kính khoảng 0,4 – 0,5cm. cánh dài khoảng 1,5cm ở trên đỉnh.

Thông 5 lá Đà Lạt

Đặc điểm sinh học

Thông 5 lá Đà Lạt thường chín có quả chín vào tháng 2 – 3. Hiện vẫn chưa thấy tái sinh bằng hạt ở núi Ngọc Linh. Cây sinh trưởng và phát triển chậm.

Đặc điểm sinh thái

Cây mọc ở rừng rậm nhiệt đới, ở núi có độ cao trung bình khoảng 1500 – 2000m.

Có thể phát triển ở trên đất xám đen, đất vàng alít và tầng mỏng bị phong hóa từ đá cát hoặc đá granít.

Phân bố

Phân bố từ Thừa Lưu tỉnh Phú Lộc, Huế đến Tây Nguyên như: Kontum, Đắc Lắc, Lâm Đồng.

Giá trị và tình trạng

Thông 5 lá Đà Lạt là nguồn gen quý hiếm cần được bảo tồn. Có thể được sử dụng trong nghành công nghiệp sản xuất bột giấy.

Hiện nay, thông 5 lá Đà Lạt là loài đang có nguy cơ bị tuyệt chủng và chưa thấy tái sinh. Mức độ đe dọa được xếp vào bậc R.

Biện pháp bảo vệ

Được bảo vệ nguyên vẹn ở trong 2 khu rừng cấm là Ngọc Linh và Chư Yang Sinh. 4 cây còn lại ở thác Uyên Ương Đà Lạt được dùng để thu hạt và nhân giống.

Loài thông này cần phải nhanh chóng đưa vào trồng nhân giống.

Thông Pà Cò

Tên khoa học: Pinus kwangtungensis, được ghi nhận lần đầu tiên ở khu BTTN Hang Kia – Pà Cò, Hòa Bình. Sau đó, còn được phát hiện ở vùng núi đá vôi ở miền Bắc như Cao Bằng, Bắc Cạn, Hà Giang, Sơn La, Thanh Hóa.

Đặc điểm

Là cây thân gỗ cao to, chiều cao có thể trên 25m, đường kính của thân từ 50 -70cm. Cây thường xanh, chồi đông với những vảy chồi có màu nâu nhạt.

Lá thông Pà Cò mọc 5 chiếc ở đầu cành ngắn. Những cành ngắn lại mọc chụm trên đầu các cành dài. Lá cây hơi công, dài từ 4 – 7cm và rộng 1 – 1,2mm. Mặt cắt ngang của thông 5 lá Pà Cò có hình 3 cạnh, mép lá có răng cưa.

Nón thông có hình trứng, mọc đơn độc. Khi nón chín dựng đứng hoặc hơi nằm ngang dài khoảng 6 – 7cm, đường kính nón từ 4,5 – 5,5cm. Mỗi nón thông có 20 – 35 vảy hình trứng ngược. Chiều dài vảy khoảng 2,5cm và chiều rộng là 1,5cm.

Hạt thông 5 lá Pà Cò có hình bầu dục, dài từ 10 – 12mm, rộng khoảng 5 – 6mm, có một cánh mỏng dài khoảng 2cm và rộng khoảng 8mm ở đỉnh. Nón của loài thông này ngắn hơn so với nón của thông 5 lá Đà Lạt.

Thông 5 lá Pà Cò

Đặc điểm sinh học

Quả thông chín vào mùa thu. Tuy nhiên rất ít khi gặp được cây thông mẹ và hoàn toàn không bắt gặp cây con.

Nơi sống và sinh thái

Thông 5 lá Pà Cò thường mọc thành các rải rừng hẹp trên đỉnh núi cao hơn 1300m. Dưới tán là các tầng cây gỗ nhỏ và tầng cây bụi, tầng dưới thường là loài thuộc ngành dương xỉ. Bên dưới là lớp rêu, địa y dày đặc.

Giá trị và tình trạng

Thông 5 lá Pà Cò cho gỗ xây dựng rất tốt. Bên cạnh đó, nhựa dầu có thể sử dụng để làm keo gắn.

Thông Pà Cò được xếp vào mức sắp nguy cấp. Phân bố hạn hẹp, số lượng cây ít và chưa tái sinh. Ngoài ra, cây còn bị khai thác để lấy gỗ, củ nên sắp bị đe dọa tuyệt chủng. Hiện nay, thông 5 lá Pà Cò đang ở mức độ đe dọa là bậc V.

Biện pháp bảo vệ

Cần được bảo vệ nghiêm ngặt nghuyên vẹn ở khu rừng trên núi đá vôi ở Pà Cò, Cao Bằng. Cũng như cần phải nghiên cứu, trồng thử để bảo tồn nguồn gen.

Các loài thông khác

Ngoài thông 5 lá đặc trưng chỉ có ở Việt Nam, nước ta còn có một số loài thông khác như thông 2 lá dẹt, thông 3 lá, thông đuôi ngựa.

Thông hai lá dẹt

Có tên khoa học là Pinus krempfii, họ thông (Pinaceae). Thông 2 lá dẹt là loại thông cổ, đặc điểm đặc trưng là 2 lá dẹt có hình lưỡi kiếm.

Phân bố ở độ cao từ 1.200 – 1.500m ở Lâm Đồng, Việt Nam. Đây là loài đặc hữu, trên thế giới chỉ có ở nước ta.

Thông 2 lá dẹt là cây gỗ, cao trên dưới 30m, đường kính thân 1,6m, có cây đường kính lên đến 2m.

Tán cây rộng, thường sẫm màu, dày và hình rẻ quạt. Thân cây lớn, cành gần như là không có nhánh, đam thẳng vào tán lá.

Hạt thông 2 lá dẹt có màu nâu nhạt, có cánh trắng. Nón quả chín phát tán ở phạm vi rộng, thường chín vào mùa mưa. Đây cũng chính là lý do khiến việc thu thập hạt thông này gặp khó khăn.

thông 2 lá dẹt

Thông ba lá

Còn được gọi là xà nu (Tây Nguyên), ngo (Đà Lạt), có tên khoa học là Pinus kesiya.

Thông 3 lá loài loài cây gỗ lớn, có thân cao thẳng đứng từ 20 – 45m. Vỏ cây có màu nâu xám, có nhiều vết nứt dọc rãnh sâu.

Tán thông ba lá có hình trứng rộng, thân cây ít nhựa nhưng có mùi hắc.

Lá cây có hình kim, thường mọc trên đầu cánh ngắn, có màu xanh ngọc. Lá loài thông này cứng và dài 20 – 25cm.

Nón quả đơn tính cùng với gốc, có hình trứng, cao từ 5 – 9cm và rộng khoảng 4 – 5cm. Nón quả cái thường chín trong 2 năm, khi chín sẽ hóa thành gỗ. Lá noãn thường phát triển thành vảy và chứa 2 hạt/vảy. Hạt thông 3 lá có cánh, dài từ 1,5 – 2,5cm.

Thông ba lá thường được sử dụng lấy gỗ để sử dụng trong xây dựng, làm nguyên liệu sản xuất bột giấy mà ít khi dùng lấy nhựa.

Thông đuôi ngựa

Còn được gọi làthông mã vĩ, có tên khoa học Pinus massoniana Lamb.

Đây là loài cây gỗ lớn, thân cây có thể cao đến 40m, đường kính thân có thể trên 90cm.

Thân thông đuôi ngựa tròn, thẳng hình trục, vỏ cây màu xám hồng và bị nứt dọc. Khi cây già thì vỏ cây sẽ bong thành từng mảng. Thân cây ít nhựa nhưng lại có mùi thơm nhẹ.

Lá thông đuôi ngựa có hình kim, mọc thành cụm gồm 2 lá ở đầu cảnh nhỏ. Lá cây dài từ 15 – 20cm, màu xanh vàng, mềm, cành non đầu lá có màu đỏ.

Nón quả thông đuôi ngựa cũng như thông 3 lá là nón đơn tính cùng gốc. Nón quả loài thông này có đặc điểm năm đầu có màu tím, hình trái xoan. Năm thứ hai có màu xanh và hình trứng. Khi chín sẽ hóa thành gỗ.

Trên đây là thông tin về thông 5 lá, hy vọng sẽ giúp bạn đọc biết hơn về loài thông này. Đồng thơi, biết thêm được những loài thông phổ biến khác đang có ở Việt Nam.